Trần Phong Vũ
Cách đây ít lâu, một người bạn chuyển cho tôi bài
“Một cuộc di cư nguy hiểm” của tác giả Xuân Hàn với gợi ý tôi viết
một bài nhận định về mối nguy cơ cộng sản núp dưới chiêu bài Phật
giáo để thâm nhập Giáo hội Phật giáo ở hải ngoại sau khi thành lập
xong Giáo hội Phật giáo Quốc doanh ở quốc nội. Vì e ngại có thể gây
hiểu lầm, tôi bỏ qua.
Ít ngày sau tôi lại nhận được cùng một bài viết
với lời giới thiệu nồng nhiệt của Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc
Tế, cơ quan Thông Tin và Phát Ngôn cùa Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật
Giáo Việt Nam Thống Nhất. Điều này khiến tôi yên tâm để lên tiếng. Tuy
vậy, để tránh ngộ nhận tôi xin dành những gì liên quan tới thân mệnh
Giáo hội Phật giáo cho quý nhân sĩ, trí thức thuộc tôn giáo bạn.
Trong bài này tôi chỉ giới hạn việc mượn quan điểm của Phòng TT/PGQT
cùng những dữ kiện do tác giả Xuân Hàn cung cấp để lên tiếng cảnh
báo về những gì có thế tác hại tới Giáo hội Công giáo do chủ
trương thâm nhập lần hồi để triệt hạ tôn giáo của CSVN.
Thông cáo của Phòng Thông Tin PGQT nói gì?
Hôm 21-12-2016, Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế có
trụ sở tại Paris đã gửi ra một bản Thông cáo Báo chí giới thiệu
bài viết kể trên của Xuân Hàn. Sau khi cảnh giác vể chủ trương cố
hữu của CS nhằm tiêu diệt Giáo hội Phật giáo chính thống, bản Thông
báo ghi nhận:
Bài viết của Xuân Hàn đã chỉ đúng căn nguyên và tác nhân
chính của sự ly gián, phân hoá: “Đó là hệ quả của Chính sách tôn giáo do nhà cầm
quyền Cộng sản giăng bẫy”. Thông cáo viết.
“Đối với Phật giáo, thì Chỉ thị số 09-CT/TW ngày 18-5-1977 của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ chủ trương: “Chuẩn bị cẩn
thận để tiến tới thành lập một tổ chức Phật giáo yêu nước chung cho cả nước. Đối
với Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (Phái Ấn Quang) phải có kế hoạch cải
tạo và sau khi cải tạo tốt sẽ đưa vào tổ chức Phật giáo chung của cả nước”. Đến
năm 1981, bốn năm sau, Nhà nước Cộng sản cho thành lập Giáo hội Phật giáo Nhà
nước.”
Sau khi nhắc tới những sự kiện đáng buồn trong nội
bộ GH ở hải ngoại, thông cáo cho biết: “Chính sách này được phổ biến qua
Tài liệu ‘Về tôn giáo và đấu tranh chống hoạt động lợi dụng tôn giáo’ do Viện
Công an ở Hà nội phát hành một triệu bản, dày 602 trang, không phổ biến mà chỉ
dùng làm tài liệu lưu hành nội bộ dành cho công an và bộ đội học tập phương
cách tiêu diệt tôn giáo: ‘Công an các địa phương cần chủ động tính toán đưa một
số đặc tình tham gia vào các thành phần lãnh đạo giáo hội các cấp. Nơi nào chưa
có đặc tình cần có kế hoạch tuyển lựa một số người tốt, có uy tín trong giáo hội,
xây dựng làm đặc tình rồi đưa vào giữ các vị trí lãnh đạo trong tổ chức Phật
giáo mới ở địa phương. Có thể chọn trong số những cao tăng hoặc tu sĩ trước đây
xấu, nhưng hiện nay có thái độ có chuyển biến tiến bộ để đưa vào ban trị sự các
cấp, sau đó có thể thu hút họ làm đặc tình phục vụ cho công tác đấu tranh
chung’. (Công tác đấu tranh chống phản động lợi dụng đạo Phật trong tình hình mới
của tác giả Trần Tư, Thiếu tướng Bộ Công an, Cục trưởng Cục A 41 là Cục theo
dõi và kiểm soát các tổ chức tôn giáo).”
Dưới đây là lời giới thiệu bài viết của Xuân Hàn ở
phần cuối bản thông cáo.
“Bài của Xuân Hàn nhắc nhở tới tình trạng hiểm nguy của một
số Tăng và Phật tử từ Việt Nam gửi qua Hoa Kỳ hằng năm để làm công tác tôn giáo
vận, phân hoá và ly gián Cộng đồng Phật giáo qua nhiều hình thức. Nhìn bề
ngoài, thì ta thấy các vị này chỉ hoạt động tôn giáo. Đến Hoa Kỳ chừng một hai
năm đã có thể xây chùa khang trang giá chừng một, hai triệu đô, nấu chay ngon
đãi đằng Phật tử, thuyết pháp thuần tuý kinh sách, không đả động chuyện nhân
quyền, đàn áp tôn giáo. Thế nhưng họ là những trái bom nổ chậm làm tan tác nền
Phật giáo dân tộc.” (TTPGQT)
Nội dung bài viết của tác giả Xuân Hàn.
Với tiêu đề “Một cuộc di cư nguy hiểm” tác giả mở
đầu: “Nhiều người bạn, ngoại quốc và ngay cả Việt, đã từng hỏi: Tại sao người
Việt Nam có nhiều chùa như vậy? Câu trả lời không dễ trả lời, vì nó bao trùm
nhiều lãnh vực. Nhưng để đơn giản, chúng ta thử quay về nguồn gốc của vấn đề.
Nhiều chùa thì lắm thầy. Mà lắm thầy thì các thầy từ đâu đến?”
Tiếp theo, tác giả cho biết cơ quan Di Trú Hoa Kỳ có 4 dạng
chiếu khán lao động theo thứ tự từ EB1 đến EB4 cho những người có khả năng đặc
biệt nếu họ muốn làm việc ở Mỹ. EB4 là những tu sĩ tôn giáo hoặc cư sĩ, tín đồ
hoạt động cho các tôn giáo. EB4 có hai hạng: thứ nhất là hạng tu sĩ, Phật Giáo
hay Thiên chúa giáo; thứ hai là hạng cư sĩ hay tín đồ hoạt động cho các tôn
giáo. Mỹ không có giới hạn cho số tu sĩ di cư sang Mỹ làm việc. Giới hạn cho hạng
cư sĩ / tín đồ là 5.000 người một năm. Để được di cư, những người đi theo dạng
EB4 cần có ba điều kiện chính. Thứ nhất, họ phải được bảo lãnh bởi một tổ chức
tôn giáo ở Mỹ được miễn thuế. Thứ hai, họ đã làm việc ít nhất là hai năm cho
tôn giáo đó ở Việt Nam. Thứ ba, họ phải có được việc làm 35 giờ một tuần…
Ngay sau khi được nhận qua dạng EB4, các tu sĩ và cư sĩ có quyền xin tá túc cố
định (permanent resident), bắt đầu qui trình trở thành công dân Mỹ.
Tác giả cho rằng: Việt Nam là một nước không có tự do tôn
giáo, do đó cũng không có tu sĩ tự do…Với một số lớn tu sĩ được EB-4 đến từ Việt
Nam, chúng ta có ba giả thuyết: Thứ nhất, đây là một chuyện ngẫu nhiên, nhưng
đã liên tục xảy ra trong nhiều năm. Thứ hai, Việt Nam là một nước mà Phật giáo
phát triển cực thịnh, đưa đến nhiều tu sĩ qua Mỹ để hoằng dương Phật pháp. Thứ
ba, đây là một chính sách từ Chính quyền Hà Nội với mục tiêu không tốt đẹp cho
Phật giáo cũng như cho chính thể quốc gia. Tác giả nhấn mạnh: “Có lẽ bạn đọc
đồng ý với chúng tôi giả thuyết thứ ba là chính xác nhất”.
Tác giả viết tiếp: Có một số đặc điểm của các trụ sở tôn
giáo, đặc biệt là Phật Giáo, đứng ra bảo lãnh các vị tu sĩ này. Thứ nhất, họ là
các tổ chức tôn giáo miễn thuế vì thế phải chấp nhận các luật lệ của Sở Thuế Vụ.
Thứ hai, họ không là đơn vị của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất vì vị thế
bất đồng chính kiến của Giáo Hội cũng như của Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ,
người lãnh đạo Giáo Hội. Vì vậy, việc họ từ bỏ Giáo Hội để rồi bảo lãnh cho các
tu sĩ từ Việt Nam không phải vì dị biệt với cá nhân nầy hay với lập trường nọ,
mà là vì nhu cầu kinh doanh hay công tác chính trị. Thứ ba, theo luật pháp, các
tu sĩ Phật Giáo di cư phải làm việc cho các trụ sở Phật Giáo bảo lãnh họ. Nếu các
tu sĩ này phải trả tiền cho các trụ sở Phật Giáo, thay vì ngược lại, thì đó
không những là trái luật mà còn cố tình phạm pháp. Cộng đồng người Việt Quốc
Gia nào chấp nhận những hoạt động này của các trụ sở Phật Giáo là không trung
thực với lập trường Chống Cộng. Mỗi cá nhân chúng ta, biết ơn sự cưu mang của đất
nước thứ hai này, không thể làm ngơ trước những hoạt động phi pháp, làm hại cho
cộng đồng, hại cho tôn giáo, và hại cho cả đất nước mình đang cư ngụ.
Muốn báo cáo gian lận liên quan đến luật di trú, quí vị có
thể liên lạc trực tiếp với tiểu bang nơi quí vị cư ngụ. Xin tham khảo trang sau
đây để biết thêm chi tiết:
https://www.uscis.gov/avoid-
scams/report-immigration-scams.
Ở California, xin quí vị liên lạc về:
California Department of Justice
Office of Immigrant Assistance
(888) 587-0557
Trên đây là tóm tắt nội dung bài viết của tác giả
Xuân Hàn trong đó nêu lên những vấn nạn chung quanh câu hỏi: tạo sao
người Việt Nam có quá nhiều chùa?
Chúng tôi xin nhường việc nhận định về nhửng phát
giác của tác giả cho những nhân sĩ trí thức trong hàng ngũ Phật tử.
Trong phần dưới đây, người viết chỉ giới hạn quan điểm của mình vào
những gì liên hệ tới những kế sách thâm nhập của CSVN nhắm vào Giáo
hội Công giáo.
Kế sách CSVN đối với tôn giáo, CG nói riêng
Đối với CS, tôn giáo là một thế lực siêu hình, không
quyền bính, không vũ khí binh đội, nhưng lại là lực cản quan trọng hàng
đầu trong kế hoạch xâm thực đường dài của chủ nghĩa Mác. Trước hết dựa
trên nguyên lý bất biến: bóng tối kị ánh sáng, sự ác độc không thể sống chung
công khai với sự thánh thiện. Vì thế, để dọn đường cho việc xây dựng chủ nghĩa
cộng sản chuyên chính tại Việt Nam, ngay từ những ngày đầu, bằng mọi giá họ phải
khống chế các thế lực tôn giáo. Nếu không tiêu diệt được thì cũng phải tìm hết
cách xâm nhập, lũng đoạn để làm cho suy yếu, tê liệt đến trở thành thờ ơ, vô cảm!
Sở dĩ những người cộng sản đánh giá cao tôn giáo vì ngoài sức
mạnh vạn năng tiên thiên do niềm tin trang bị cho các tín đồ mọi tôn giáo, trên
thực tế hầu như quảng đại quần chúng Việt Nam, dù tham gia vào bất cứ tổ chức
xã hội, chính trị nào, cũng đều xuất phát từ một tôn giáo. Nếu không là Phật
Giáo thì Công Giáo, Tin Lành hay Cao Đài hoặc Phật Giáo Hòa Hảo. Vì thế, chi
phối được tôn giáo là coi như nắm được tất cả.
Trong số các tôn giáo, người cộng sản tỏ ra e sợ nhất là khối
tín đồ Công Giáo. Đây không phải là nhận định chủ quan. Nó là một thực tế đã được
chứng minh và nhất là đã được chính đại lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, đương
kim Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN, nhìn nhận trong một văn thư tố cáo tội
ác của cộng sản đối với tôn giáo gửi Tổng Bí Thư Đỗ Mười đầu thập niên cuối
cùng thế kỷ trước[1].
Phần nhận định trong bài này đặt nền trên những vấn nạn mà
Giáo Hội Công Giáo (GHCG) đã và đang phải gánh chịu trước những thủ đoạn xâm nhập,
bách hại triền miên của đảng và nhà nước CSVN. Người viết hy vọng những nét
chung trong đó, cũng như những phát hiện của Phòng Thông tin Phật giáo
Quốc Tế ở Paris, kể cả những tiết lộ của tác giả Xuân Hàn, nhà văn
Dương Thu Hương sẽ giúp chúng ta hiểu được hoàn cảnh của các tôn giáo khác.
Với những kinh nghiệm quý báu học được từ hai đàn anh lớn Mạc
Tư Khoa, Bắc Kinh và từ các nước cộng sản Đông Âu trước khi chế độ cộng sản tại
các nước này bị tan rã vào thập niên cuối thế kỷ trước, ngay từ thời gian đầu
trước khi chiếm được một nửa lãnh thổ miền Nam năm 1954, CS Hànội đã đề ra những
sách lược chi tiết với ý đồ nắm trọn quyền kiểm soát mọi đường đi nước bước của
các tôn giáo. Riêng với GHCG, nhờ những kinh nghiệm học được từ Ba Lan, một nước
trên 90 phần trăm dân số là Công Giáo, Hànội đã có cả một kế hoạch quy mô trong
việc xâm nhập và lũng đoạn, dẫn tới những hiện tượng chia xé, nghi kỵ, phân hóa
đáng buồn hiện nay. Khởi đầu họ mua chuộc một thiểu số giáo sĩ đã biến chất để
đặt nền cho việc hình thành những tổ chức mang tính xã hội dân sự với màu sắc
tôn giáo dưới cái dù của Mặt Trận Tổ Quốc. Khởi đầu là “Ủy Ban Liên Lạc CG
Yêu Hòa Bình và Tổ Quốc VN” được thành lập ở miền Bắc và hậu thân của nó ở
miền Nam sau tháng 4-75 là “Ủy Ban Đoàn Kết CG Yêu Nước”.
Từ những tổ chức được giáo dân gọi mỉa mai là “Công
giáo Quốc dianh” này, lần hồi những năm gần đây, trong chừng mực nào
đó, đảng và nhà nước CSVN đã tạo được một phần ảnh hưởng tới
những giới chức lãnh đạo trong HĐGMVN. Bước qua đầu thập niên thứ hai
đệ tam thiên niên, Hànội đã có những kế sách cụ thể đối với các tôn
giáo, cách riêng Công Giáo. Chúng ta đọc được gì qua văn kiện “Công tác tôn
giáo ổn định, đi đúng đường hướng” đăng trên TTXVN cuối tháng 02-2011?
“Phó Thủ Trường Nguyễn
Thiện Nhân đánh giá cao công tác quản lý nhà nước về tôn giáo trong năm qua (…)
Tuy nhiên, PTT cũng chỉ ra những hạn chế trong việc thực hiện cơ chế phối hợp
giữa các cơ quan tại địa phương, giữa địa phương với Trung ương trong công tác
quản lý tôn giáo”.
Phát giác trên đây khiến dư luận người Công Giáo trong và
ngoài nước có một cái nhìn khác về sự hiện diện của ông Nguyễn Thiện Nhân trong
đại lễ Bế Mạc Năm Thánh của GHCG ở La Vang đầu năm 2011 kể cả dịp kết thúc
Hội nghị thường niên của HĐGM cuối năm 2016, và trong dịp ấy ông đã long
trọng trao tặng TGM Sài Gòn Bùi Văn Đọc một món quà đáng giá. Hiển
nhiên, ông được chế độ đặc cử đến và lên tiếng trong những dịp này không chỉ
đơn thuần với tư cách Phó Thủ Tướng thay mặt nhà nước mà còn có vai trò đại
diện BCT giám sát những diễn tiến trong các buổi sinh hoạt quan trọng của
Giáo hội Công giáo.
Văn kiện cũng nhấn mạnh tới “Việc đào tạo, bồi dưỡng chức sắc,
nhà tu hành trong các tôn giáo”. Riêng “Năm 2010, có trên 18.700 lượt người được
đào tạo, bồi dưỡng và trên 2.800 người đã tốt nghiệp, hoàn thành các khóa bồi
dưỡng chức sắc, nhà tu hành.”
Một loạt câu hỏi được đặt ra:
a/ Con số 18.700 lượt người được đào tạo, bồi dưỡng và trên
2.800 người đã tốt nghiệp này, về phía Công Giáo có những tên tuổi nào, cho
đến nay vẫn không ai biết.
b/ Những gì đã được đưa vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng?
c/ Tỉ lệ phân chia cho các tôn giáo ra sao?
d/ Ai, cơ quan nào phụ trách việc đào tạo, bồi dưỡng?
e/ Cuộc gặp gỡ các đại diện tôn giáo cấp cao của TBT Nguyễn Phú Trọng hôm 09-12-2016
có liên quan gì tới kế sách đào tạo, bồi dưỡng này không?
Riêng với Giáo hội Phật Giáo, những tiết lộ của nhà văn
Dương Thu Hương[2] bao gồm những báo động gần đây của các chức sắc GHPGVNTN ở hải
ngoại –cách riêng bên Úc Châu- cho thấy trong nhiều năm qua, đảng và nhà nước
CSVN đã ra sức đào tạo một thế hệ Tăng Sĩ trẻ để thay thế lớp cũ quản lý các
Thiền viện, Chùa chiền trực thuộc cơ chế gọi là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam do
họ dựng lên để chống lại GHPGVNTN dưới quyền chỉ đạo của đại lão Hòa Thượng
Thích Quảng Độ. Việc thay thế này đã được thực hiện từ lâu tại quốc nội và gần
đây lan ra hải ngoại, nhất là bên Úc châu. Riêng với Công Giáo, vì truyền thống
và kỷ luật lâu đời của Giáo Hội trong việc đào tạo tu sĩ, linh mục không cho
phép họ trực tiếp can dự vào lãnh vực này. Để bù lại, bằng mọi phương sách: từ
hăm dọa, khủng bố, phỉnh gạt, mua chuộc, sau khi bất đắc dĩ phải cho mở lại một
số chủng viện, đảng và nhà nước giành quyền duyệt xét danh sách các ứng viên đi
tu, mà hậu ý không gì khác hơn là nhằm loại bỏ những thành phần tốt đồng thời
cài đặt vào những ứng sinh do họ lựa chọn. Để chắc ăn, trong suốt những năm tu
học, vào những dịp về quê nghỉ hè, các chủng sinh còn phải trình diện với các
viên chức nhà nước ở địa phương để được dạy dỗ, “bồi dưỡng” theo chủ trương, đường
hướng của đảng!
Văn kiện cũng đếm kỹ những lần đảng và nhà nước cho phép các
chức sắc tôn giáo đi ra nước ngoài, theo đó chỉ riêng “Năm 2010 có 240 lượt chức
sắc, nhà tu hành đi nước ngoài”.
Đòn mới của CSVN: công khai cổ võ việc kết nạp người có đạo
vào đảng![3]
Đối với người tín hữu Công Giáo thuần thành, việc gia nhập đảng
cộng sản đồng nghĩa với việc cắt bỏ mối giây thông hiệp với Thiên Chúa. Nói
cách khác, một tín đồ khi tuyên thệ trở thành đảng viên đảng cộng sản tức là
đương sự đã chính thức bỏ đạo, cho dù biện minh vì lý do an toàn nghề nghiệp.
Vì thế không ai ngạc nhiên là qua những thư chung 1951 và 1960, các GM đã hơn một
lần lên án chủ nghĩa vô thần, vô tôn giáo cộng sản, nghiêm khắc cảnh báo những
mưu toan phá đạo của chúng và tuyệt đối ngăn cấm người tín hữu gia nhập ác đảng
này.
Đã đành trong nhiều năm qua quả đã có những tín hữu giáo
dân, kể cả một số giáo sĩ vong thân, biến chất trở thành đảng viên cộng sản.
Nhưng với mục tiêu thâm độc, đảng vẫn tìm hết cách để che đậy cái đuôi cộng sản
của những thành phần mất gốc vừa nói. Chủ trương này không ngoài ý đồ giúp họ
không bị giáo quyền, giáo dân điểm mặt, chỉ tên hầu dễ dàng xâm nhập, trà trộn
để lũng đoạn Giáo Hội. Do đó, nếu ngày hôm nay, trong hàng ngũ chủ chăn cấp cao
có lọt vào một vài kẻ “chăn thuê” từng âm thầm tuyên thệ gia nhập đảng cộng sản
Việt Nam thì cũng chẳng làm cho ai ngạc nhiên. Kinh nghiệm từ GHCG Ba Lan cho
chúng ta hiểu như thế.
Điều khiến người ta ngạc nhiên và cũng gây nhiều lo âu là bước
vào đầu thập niên thứ hai của ngàn năm thứ ba, Hànội đã và đang ra mặt công
khai cổ võ cho công tác kết nạp người có đạo vào đảng cộng sản.
Trong một bài viết trên nhật báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận
chính thức của đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam, người ta đọc được những dòng
sau đây: “Ðến nay, số lượng quần chúng ưu tú là người có đạo được kết nạp đảng
tăng lên hàng năm, giảm dần số xóm không có đảng viên là người có đạo. Những đảng
viên là người có đạo được kết nạp đã thật sự là hạt nhân tích cực, đầu tàu
gương mẫu trong công tác”.
Bài báo được xây dựng trên Nghị quyết của Ban Thường vụ Huyện
ủy Kim Sơn (Ninh Bình) thuộc Giáo khu Phát Diệm vốn được coi là cái nôi của
Giáo Hội Công Giáo miền Bắc với tỷ lệ công dân có tín ngưỡng Công Giáo rất cao.
Bài báo viết:
“Nghị quyết của Ban Thường vụ Huyện ủy về đẩy mạnh công tác
kết nạp đảng đối với quần chúng có đạo đề ra và triển khai thực hiện từ tháng
8-2008, với mục tiêu, mỗi năm, toàn Ðảng bộ huyện kết nạp Ðảng từ 200 đảng viên
trở lên, trong đó có hơn 40 đảng viên là người có đạo; hằng năm có thêm 10 – 15
chi bộ nơi có đồng bào theo đạo, có đảng viên là người có đạo, tiến tới năm
2015 có 100% chi bộ trong vùng có đông đồng bào theo đạo có đảng viên là người
có đạo”. Tiết lộ này cho thấy, dù chưa công khai hóa, từ cuối hạ bán niên
2008, riêng huyện Kim Sơn đã đề ra chỉ tiêu hàng năm phải kết nạp từ 200 đảng
viên trở lên, trong đó 20% là đảng viên có tín ngưỡng Công Giáo. Nêu lên một
trường hợp điển hình để nhấn mạnh về nhu cầu đoàn ngũ hóa giới trẻ Công giáo dưới
sự kiểm soát của đảng cộng sản, báo Nhân Dân cho hay.
“… Bí thư Ðoàn Thanh niên xã Kim Mỹ – đồng chí Ngô Thượng Ðại-,
một đảng viên trẻ là người Công giáo cho biết, Kim Mỹ là xã nằm ở ven biển, có
gần 88% số dân theo đạo Công giáo; số người trong độ tuổi sinh hoạt Ðoàn là
1.775, trong đó thanh niên Công giáo chiếm 85%. Do đó việc đoàn kết, tập hợp
thanh niên Công giáo là một trong những hoạt động chính của công tác Ðoàn.”
Để thực hiện được điều
này, Đoàn đẩy mạnh việc tổ chức những buổi học tập để giới trẻ Công Giáo tìm hiểu
về điều gọi là “Gương đạo đức của Bác”, và về “Vinh quang của đảng” v.v … “Từ
đó, tạo cơ hội và điều kiện rèn luyện cho thanh niên và phát hiện những nhân tố
tiêu biểu để giới thiệu, kết nạp Ðảng.”
Ở một đoạn khác, báo Nhân Dân viết:
Việc tìm kiếm đảng viên trong số những tín hữu Công giáo
không phải lúc nào cũng suông sẻ. Cũng trong bài viết trên đây, báo Nhân Dân tiết
lộ: “Tuy nhiên, trên địa bàn Ðịnh Hóa vẫn còn xóm 12 với 100% số dân theo đạo
công giáo chưa có đảng viên. Cái khó vẫn là công tác tư tưởng và tinh thần
trách nhiệm của cấp ủy và đảng viên được phân công theo dõi địa bàn. Phát triển
Ðảng tại xóm 12 cũng là mục tiêu phấn đấu của Ðảng bộ xã nhiệm kỳ này, do đó thực
hiện nghị quyết Ðảng bộ đề ra cần sự nỗ lực đồng bộ từ cấp ủy, các đoàn, hội và
mỗi cán bộ, đảng viên.”
Cho đến năm đầu thập niên thứ hai của đệ tam thiên niên, chủ
trương khống chế, bách hại các tôn giáo của đảng và nhà nước CSVN vẫn tiếp tục
được đặt lên hàng đầu. Thời gian gần đây, do nhu cầu bắt buộc phải mở ra với thế
giới, trên nguyên tác, đối sách về tự do tôn giáo của Hànội đã có những thay đổi.
Nhưng nhìn sâu vào bên trong, đấy chỉ là những thay đổi bề ngoài khi mà thực chất
vẫn không khác, nếu không muốn nói là còn hiểm độc và nguy hại hơn trước.
Với tâm trạng ưu tư và cái nhìn sâu lắng của người tín hữu
thành tâm yêu mến Giáo hội, không ít người Công giáo, bao gồm cả hai thành
phần giáo dân và giáo sĩ, đã có những suy nghĩ ngược lại. Họ cho rằng: thà như
ở Trung cộng, trong khi bắt buộc phải chấp nhận một thứ Giáo hội tự trị thống
thuộc nhà nước nhưng bên cạnh đó còn có một Giáo hội thầm lặng –một Giáo hội hầm
trú tuyệt đối trung thành với Thiên Chúa qua mối hiệp thông tinh tuyền với Giáo
hội hoàn vũ… còn hơn là một thứ Giáo hội “nửa nạc nửa mỡ” như hiện nay. Tuy
trên danh nghĩa thống thuộc Rôma nhưng thực tế, một phần chi thể GHCGVN ngày
nay đã phần nào biến chất để lần hồi trở thành một Giáo hội theo chủ nghĩa tương
đối, chủ nghĩa thực dụng –một thứ chủ nghĩa từng được đương kim Giáo Hoàng Biển
Đức XVI lên tiếng cảnh giác lâu nay-.
Nói theo linh mục Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh Dòng Phan-xi-cô
thì đấy là một thứ “Tôn Giáo Lễ Hội”, đã bị biến chất, bị rút ruột!
Trở về với sách lược của CSVN nhằm xâm nhập các
cộng đồng tôn giáo hải ngoại qua lời cảnh báo của tác giả Xuân Hàn
và được Phòng Thông Tin Phật giáo Quốc tế ở Paris tán đồng, chúng
tôi nhận thấy chưa có chỉ dấu cụ thể nào có quy mô và tấm vóc như
thế về phía Công giáo. Tuy vậy, dư luận người Công giáo hải ngoại
cũng không khỏi nêu lên những nghi vấn chung quanh chuyện các các nữ tu
từ trong nước ra ngoài này tổ chức rầm rộ các buổi tiệc gây quỹ từ
thiện, với số thu trong mỗi dịp như thế lên tới hàng chục, hàng trăm
ngàn Mỹ kim. Đành rằng công tác từ thiện nằm trong khuôn khổ thực thi
đức bác ái Công giáo. Nhưng trên thực tế và trong hoàn cảnh đặc biệt
của đất nước chúng ta hiện nay, tự thân những tác vụ này đã gây ra
những hệ quả không đáng trông chờ.
Một mặt nó làm mất đi một nguồn tài nguyên rất lớn
có thể được dùng để hỗ trợ cho các tù nhân lương tâm, các phong trào
đấu tranh cho tự do, dân chủ, cho nhân quyền nhân phẩm Việt Nam. Mặt
khác, lần hồi nó biến người Công giáo trở thành những con người vô
cảm, tự bằng lòng với những đóng góp gọi là từ thiện trong phạm
trù xã hội mà lẽ ra chính những kẻ đang nắm giữ vai trò điều hành
đất nước có trách nhiệm phải lo… để rồi quên đi bổn phận thiêng liêng
của người tín hữu công dân trên quy mô rộng lớn mà Tin Mừng của Đấng
Cứu Thế đòi buộc những kẻ bước theo Ngài phải thực thi. Đó là tích
cực tiếp tay những người thiện chí trong nước giải thoát tuyệt đại
đa số trong 90 triệu đồng bào thấp cổ bé miệng đang là nạn nhân trực
tiếp của một chế độ bạo tàn trên quê hương ta hôm nay.
Trần Phong Vũ
_____
[1] Một đoạn trong văn thư này, HT Thích Quảng Độ viết
nguyên văn như sau: “Tại VN có hai tôn giáo chính là Thiên Chúa Giáo và Phật
Giáo. CS gọi TCG là Công giáo mà tiếng lóng của họ là ‘cứt gà’, còn Phật giáo
thì tiếng lóng của họ là ‘phân gà’. Tại sao họ lại gọi là cứt gà và phân gà Tức
họ cho Công giáo khó tiêu diệt hơn Phật giáo. Họ phân tích rất kỹ, và vì nhiều
lý do nhưng quá dài không thể kể hết ra ở đây, tôi chỉ tóm tắt phân tích của họ
như sau: CS đánh giá Công giáo tuy là số ít, nhưng là những con sư tử, khó tiêu
diệt, cũng như cứt gá sáp (cứt gà ướt sền sệt) đã dính vào quần áo thì chỉ có
cách cắt bỏ chỗ ấy đi thôi, chứ giặt khó sạch lắm; còn Phật giáo, tuy là số
đông, nhưng chỉ là những con cừu, dễ tiêu diệt, cũng như phân gà khô, chỉ cần gạt
một cái là sạch! Nhưg dù khó hay dễ thì cuối cùng cũng phải tiêu diệt! Nhưng
cách thức thức tiêu diệt thì tùy từng giai đoạn, tùy từng nơi chỗ….”
[2] Trong một bài trả lời thắc mắc của Phật tử, nhà văn nữ
họ Dương công khai tiết lộ những chi tiết khó tin sau đây:
“Quyền lực nào áp chế những người tu hành và thả lũ lợn bẩn
thỉu vào khắp chùa chiền xứ sở …. Chẳng có gì bí mật cả, ‘bên trên’ là A 25 Cục
bảo vệ văn hóa thuộc Tổng cục 1 Bộ Nội vụ. A 25 có nhiệm vụ đào tạo sư sãi để
‘yểm’ Hội Phật giáo Việt Nam, để trấn giữ hệ thống chùa toàn quốc… Nguồn đào tạo
chính là C 500 (đại học ngành an ninh). Thêm nữa, sinh viên tuyển lựa từ các đại
học khác như Tổng hợp, Sư phạm, Ngoại ngữ … có thành phần cơ bản (lý lịch đáng
tin cậy) được vũ trang bằng lý thuyết giai cấp của Marx-Lénine và một thứ chủ
nghĩa duy vật hạ đẳng. Sau đó, lớp người này được ‘tráng men’ bằng lý thuyết đạo
Phật và trước hết các phương pháp niệm kinh, hành lễ để ‘vào nghề’.
Như thế nhà nước cộng sản đã tạo nên một đội ngũ ‘tôi tớ
trung thành’ được quyền thỏa mãn mọi nhu cầu vật chất và nhục thể dựa trên sự đầu
cơ trục lợi ‘những khát vọng tâm linh’ của dân chúng. Các ông sư, bà sư áo quần
phấp phới cưỡi xe vù vù đi ‘họp kín’. Họp kín ở đây tức là họp ‘giao ban’ ngành
dọc A 25. Họ báo cáo rành mạch mọi thành tích. Riêng những cọc tiền thu được từ
các hòm công đức là ‘không thể rành mạch’ vì các sư còn phải mang về quê xây
nhà tầng và lo cho các con học đại học trong nước và ngoài nước. Sư hành nghề ở
Thái Nguyên, Hà Bắc thường có quê quán gia thất tại Thanh Hóa, Nam Định và ngược
lại …. So với các nghề khác trong Bộ Nội vụ, ‘nghề làm sư’ là béo bở, chỉ thua
kém ‘Cục buôn lậu ma túy’ thôi.
Cả một bộ máy lừa bịp vận hành nghiễm nhiên và ngang nhiên
dưới ánh mặt trời, trước mắt dân chúng…”
[3] Tìm đọc bài “Nhìn lại vài nét quan trọng trong
hai năm 2010/2012” của Trần Phong Vũ trong Tuyển Tập “Công Giáo Việt Nam
2005-2015, Từ Tòa Khâm Sứ – Thái Hà đến Mỹ Yên” của nhiều tác giả,
do nguyệt san Diễn Đàn Giáo Dân ấn hành năm 2015 tại California Hoa Kỳ,
từ trang 133 đến trang 201.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét