Đương nhiên, với hai nhà lãnh đạo của hai cái chế độ
mà hàm lượng sự thật có thể đọc được qua bề nổi của chính sách
và các phát ngôn công khai là thấp nhất trong các nguyên thủ quốc gia,
thì chuyện đoán xem họ có thể nói thầm, nói vụng với nhau những gì
là chuyện hoàn toàn bất khả thi.
Nhưng nếu với một mức độ khó đoán nhất của Tổng
thống Mỹ vừa đắc cư,̉ mà vẫn có không ít nhà phân tích uy tín tốn
không ít bút mực và thời gian để mò mẫm, phán đoán, thì biết rằng,
dẫu những phỏng đoán đó ít và khó xác định nhất, nó có thể vẫn
có tác dụng, và đem lại ít nhiều ích lợi.
Không rõ ông Tập nảy ra ý định mời ông Trọng sang
thăm Trung Quốc từ bao giờ, nhưng chỉ xét bối cảnh gấp gáp ngay trước
ngày Tết cổ truyền, vốn được coi là dịp chỉ dành cho những chuyện
hiếu hỉ, chỉ giành cho những cuộc hộ ngộ giữa những người thân,
không ai bàn chuyện quan trọng và nghiêm túc vào những ngày này, thì
có thể đóan rằng, chuyện không phải là chuyện thường tình. Và vì
vậy mà những chuyện đăng công khai trên mặt báo, chẳng hạn như việc
bày ra chuyện bắn 21 phát đại bác, rồi lại long trọng ra tuyên bố
chung, thực ra chỉ là việc vớ vẩn, diễn tuồng.
Bởi vì chuyến đi thăm không vào một dịp có ý nghĩa
chính trị hay ngoại giao nào, không phải năm chẵn Năm hay chẵn Chục,
cũng chẳng có lý do cụ thể gì, không theo một chương trình có sắp
đặt trước nào. Vả lại, giữa hai nước không có diễn biến gì đặc
biệt kể từ khi ông Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm chính thức hồi
tháng 9/2016, tức là chỉ mới có bốn tháng, chẳng có lý do gì để
cả hai nhà nước phải thăm nhau tới cấp Nguyên thủ.
Ban đối ngoại Trung Ương ngày 9-1 ra thông báo, thì
ngày 11/01/2017, ông Trọng đã lên đường đi thăm Trung Quốc 3 ngày.
Chuyện lạ hiếm có. Một chuyến thăm của một tổng bí thư nguyên thủ,
chỉ cho công luận biết trước có 2 ngày. Chắc chắn chuyện làm gì, đọc
gì, sẽ không kịp có nghị quyết của bộ chính trị như tập quán.
Không có lý do gì cụ thể nhưng lại có nghi lễ 21
phát đại bác.
Đọc bản Tuyên bố chung lần này, nếu đem nó so sánh
với tuyên bố chung trong chuyến thăm của ông Thủ tướng Phúc hồi tháng
chín/2016, và với bản tuyên bố chung của chính ông Trọng thăm Trung
Quốc tháng 4 năm 2015, thì thấy rõ rằng, người ta đã chép lại chính
những văn bản này, và chỉ sửa có một vài điều. Những Hiêp định hay
những Ghi nhớ chỉ là sự tiếp tục hay kết quả của các bản ghi nhớ
hay những dự thảo có từ những tuyên bố chung lần trước, có lẽ đã
bị bỏ bê do sự hờn dỗi của Trung Cộng sau những vụ ầm ĩ về sự
xích lại gần Mỹ của đảng cộng sản Việt Nam năm 2016 vừa qua. Có vẻ
như Trung Cộng làm lành, laị có vẻ như ông Trọng đi tìm sự che chở.
Những điều mà bản tuyên bố chung lần này, dù không
mới, nhưng được nhắc lại và được nhấn mạnh hơn so hai bản nêu trên
kia, đó là:
– Nhắc lại quan hệ hai nước là tài sản vô giá do Hồ
Chủ Tịch và Cố Chủ Tịch Mao vun đắp.
– Nhắc lại quy tắc 16 chữ vàng và quan hệ 4 tốt.
– Tiếp tục làm tốt Hội thảo lý luận hàng năm.
– Xúc tiến chương trình đào tạo cán bộ lý luận và
quản lý cao cấp.
Sở dĩ có hai điểm cần phải “nhắc lại” trong Tuyên
bố, có lẽ vì sau chuyến thăm của ngài Tổng Trọng sang Mỹ, sau vụ cá
chết trên biển miền Trung do Formosa, nhưng có gốc tích từ âm mưu phá
quan hệ Việt Mỹ của Trung Quốc, sau chuyến thăm của tổng thống Mỹ
sang Việt Nam, và sau tuyên bố Mỹ dỡ bỏ cấm vận vũ khí sát thương,
có vẻ như, đảng cộng sản Việt Nam đã công khai nhạt tình anh em với
Trung Cộng.
Hội thảo lý luận tổ chức luân phiên hàng năm giữa
hai đảng là công cụ níu kéo, trói chặt đảng cộng sản Việt Nam vào
với đảng đàn anh Trung Quốc bằng sợi dây chủ nghĩa Mác. Hội thảo
này kết thúc tại Thượng Hải tháng 5/2015, nhưng gần như bị bỏ lơ
suốt cả năm 2016. Cho đến tận 23/12/2016, không biết do sức ép từ đâu
và từ ai, mới tổ chức lại tại Hà Nội, nhưng lại không do ông Đinh
Thế Huynh, đương kim Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung Ương, hay ông Võ
văn Thưởng, trưởng ban Tuyên giáo dẫn đầu như thông lệ, mà lại do ông
Phạm Minh Chính, trưởng ban Tổ chức TW làm trưởng đoàn.
Điều này lại được nhấn mạnh trở lại trong bản Tuyên
bố chung Trọng – Tập là một sự tự gán ghép của ông Trọng vào Trung
Quốc, hay là áp lực trói buộc như một điều kiện mà ông Tập đưa ra,
trước khi bố thí gì đó cho ông Trọng hay cho chế độ của ông Trọng?!
Cùng với sự trói buộc này là Chương trình đào tạo
cán bộ lý luận và quản trị cao cấp. Đây là điều kiện thứ hai, và
là điều kiện sinh tồn của đảng cộng sản Việt nam. Vì không khó khăn
để hiểu rằng, đào tạo là khuôn đúc. Những người sẽ nắm những chức
vụ quan trọng trong guồng máy lãnh đạo của Việt nam sẽ là những
người theo khuôn Trung Quốc, có kiến thức của Trung Quốc, mang tư tưởng
theo hệ thống tư tưởng Trung Quốc, sẽ phải chịu những ràng buộc thông
qua hệ thống liên lạc được thiết lập kín, trói buộc họ với đảng
cộng sản Trung Quốc. Những cán bộ cốt cán này sẽ bị mua chuộc, bị
cài bẫy, phải trải qua các thử thách để tạo dựng hồ sơ cá nhân. Họ
bị ép buộc trung thành với Trung Quốc. Chưa kể họ sẽ được huấn
luyện để trở thành gián điệp cho Trung Quốc, hay một lực lượng chuẩn
bị cho bất cứ một cuộc khủng hoảng chế độ nào .v.v… Tóm lại trong
tương lai, bộ máy Việt Nam sẽ do Trung Quốc kiểm soát.
Ông Trọng từng có kinh nghiệm này, từng dùng thủ
đoạn này và có lẽ ông đã từng tìm cách từ chối nó.
Vậy tại sao có chuyến đi vội vàng và bí ẩn này.
Nếu đọc kỹ cả những hiệp định hợp tác giao thông, cả kinh tế, cả
quốc phòng, an ninh, cả văn hóa, gíao dục, thì có cảm giác như Việt
Nam đã là một bộ phận, một địa phương thuộc Trung quốc. Và một câu
hỏi đặt ra là, nếu ông Trọng và đảng cộng sản Việt Nam không chính
thức bán nước, thì vì lý do gì ông Trọng chấp nhận những trói buộc
trên?
Chuyện này chỉ có thể giải thích bằng sự ra đời
chính thức của Luật Nhân quyền Magnitski do chính tổng thống OBAMA vừa
ký phê chuẩn ngày 2/12/2016, và do chính tay Thượng nghị sĩ John McCain
trình lên Quốc hội. Nếu kết hợp với chuyến thăm cuối cùng trước khi
rời chức vụ tại Nhà Trắng của Bộ trưởng ngoại giao John Kerry, thì
có thể giải thích thông điệp này như sau:
Cùng một lúc, cả OBAMA, cả Kerry, cả McCain, bộ Ba
đã mất cả bốn năm để làm chuyển hoá chệ́ độ cộng sản Việt nam theo
hướng dân chủ hoá trong trật tự, hoà bình, như cố gắng cuối cùng,
đã bị ông Trọng và đảng cộng sản Việt Nam lợi dụng và phản bội.
Họ đã trở thành một lá bài trong trò chơi thể chế chính trị của
ông Trọng và của đảng cộng sản Việt Nam. Công sức và những cố gắng
của họ đã đổ xuống biển và biến họ thành những thằng ngốc tốt
bụng. John Kerry đến lần cuối để nói lời vĩnh biệt chế độ đảng trị
và để lại thông điệp rằng, những người Việt, nên tiên trách kỵ̉, hậu
trách nhân. “Những thằng ngu thường tưởng rằng mình khôn hơn người
khác”.
Khi Magnitski chính thức có hiệu lực và phát huy tác
dụng, thì ngay Nguyễn Phú Trọng có thể cũng bị quy kết vi phạm nhân
quyền. Trong bộ máy chính quyền của Việt nam, sẽ không ít hơn một
phần ba sô ́lãnh đạo chóp bu hoặc dính tội vi phạm luật nhân quyền,
hoặc phạm tội tham nhũng, hoặc phạm tội cả hai. Và nghiêm trọng hơn,
cái thể chế chính trị độc đảng phản dân chủ có bản chất vi phạm
nhân quyền và nuôi dưỡng tham nhũng của Việt Nam sẽ không được công
nhận là một thể chế chính danh theo pháp luật truyền thống quốc tế,
có thể không được hưởng các quy chế đang áp dụng cho các chế độ
thông thường.
Nếu chính phủ Việt Nam và Trung Quốc tới đây bị quy
liệt vào danh sách quốc gia phân biệt và đàn áp nhân quyền, phân biệt
và đàn áp tôn giáo và dung dưỡng tham nhũng hệ thống, cả hai sẽ
không được hưởng các quyề̀n tự do thương mại và các quyền tự do kinh
tế khác. Tất cả các hiệp định đã ký kết có thể sẽ bị xét lại
và sẽ bị siết chặt lại. Không phải vô tình khi TRUMP nói rằng ngay
cả tư cách thành viên WTO của Trung Quốc cũng cần phải xem lại.
Hệ thống chính trị tương đồng duy nhất với chế độ
độc đảng cầm quyền của Việt Nam, trên mặt Địa cầu chỉ còn lại nước
Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Nhà nước duy nhất trên trái đất thưà nhận
tính chính danh của Tổng bí thư như Nguyên thủ quốc gia chỉ còn lại
duy nhất là Nhà nước Trung Quốc. Chỉ còn duy nhất Tập Cận Bình có
thể bắn đại bác để đón tiếp ông Trọng. Bắc Triều tiên là một ngoại
lệ bệnh tật. CuBa là người bạn cuối cùng đã ra đi nốt. Chỉ còn
Trung Quốc, dẫu Đất nước Việt có thể mất, sông núi, biển trời Việt
có thể mất, nhưng chế độ thì không và cái chức Tổng bí thư của ông
sẽ còn cớ lý để sống sót. Trung Quốc sẽ giúp ông ngồi vững trên
ghế, để ông cùng họ chống lại Mỹ. Trên trái đất, người Tàu chỉ còn
Việt Nam cộng sản của ông Trọng được gọi là đồng chí. Người Tàu
không có bạn, chưa bao giờ có bạn, sẽ không bao giờ có bạn. Những kẻ
đi với họ chỉ là những con mồi họ sẽ ăn thịt vào lúc khẩn cấp, là
những thằng ngốc mà vưà đá vào đít vưà nhét kẹo vào mồm. Họ chỉ
nuôi ông để thí mạng ông khi cần bảo toàn cho sinh mệnh của họ.
Hai con người này gặp nhau vội vã sẽ có thể nói
những gì? Không, chẳng có gì cả, chỉ là hai thằng người ôm lấy nhau
mà khóc để cùng cảm thấy bớt cô đơn, để cố che đậy sự lo sợ. Chúng
sẽ bỏ biển Đông lại, vì “nếu chỉ vì biển Đông mà bị tách ra cho Mỹ
diệt từng thằng thì cả hai cùng chết. Tàu phải sống, vì nếu Tàu
chết, thì Việt cộng sản không thể sống. Biển Đông là tiểu tiết,
phải lấy Đại cục làm trọng”.
Đấy là điều duy nhất họ nói với nhau, và chỉ giữa
họ với nhau. Họ nói thầm và nói vụng với nhau. Người ngoài chỉ nghe
thấy 21 phát đại bác.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét