Tác giả: Peter Scholl-Latour |
Biên dịch: Phan Ba

Hình: Tướng Leclerc với Võ Nguyên
Giáp tại Đài kỷ niệm Chiến sĩ trận vong tại Hanoi năm 1946 (vườn hoa Canh Nông,
nơi đặt tượng Lê Nin ngày nay).
Vịnh Hạ Long có một hình ảnh ma
quái. Ngay sau khi màn sương tan bớt đi một ít, vô số những tảng đá vôi kỳ lạ
xuất hiện trên biển màu bất động màu xanh đậm. Một cơn mưa nhỏ, lạnh, được gọi
là chachin [mưa phùn], cứ rơi xuống không ngưng. Những người lính của hạm đội đổ
bộ Pháp đứng rùng mình ở cạnh lan can tàu và ngay bây giờ đã nhớ nhung cái nóng
nực của Sài Gòn rồi. Ngày càng có nhiều thuyền buồm hiện ra từ sương mù. Cả gia
đình sống trong những gian phòng đơn sơ trên các con tàu đó. Với những cánh buồm
màu nâu sậm của chúng, các chiếc thuyền lướt đi trên nước như những con dơi.
Người dân Việt trên thuyền tìm cách tiếp xúc với đạo quân xâm lược xa lạ. Họ ăn mặc rách rưới và mời mua vài con tôm cá. Chắc họ phải thiếu thốn ghê gớm, vì họ lao đến những phần thức ăn thừa rơi ra từ lối lên xuống tàu, còn vớt cả những lon đồ hộp rỗng lên và gom chúng lại như những vật quý giá. Qua cái nhìn đầu tiên, những ngư dân từ Hạ Long này là một dân tộc nhỏ bé hết sức thân thiện. Họ nói ríu rít không ngưng. Và khi những người lính muốn tán tỉnh các cô gái và các cô này mỉm cười đáp trả, thì người Pháp hãi hùng nhận ra rằng răng của họ đã được nhuộm đen.
Người dân Việt trên thuyền tìm cách tiếp xúc với đạo quân xâm lược xa lạ. Họ ăn mặc rách rưới và mời mua vài con tôm cá. Chắc họ phải thiếu thốn ghê gớm, vì họ lao đến những phần thức ăn thừa rơi ra từ lối lên xuống tàu, còn vớt cả những lon đồ hộp rỗng lên và gom chúng lại như những vật quý giá. Qua cái nhìn đầu tiên, những ngư dân từ Hạ Long này là một dân tộc nhỏ bé hết sức thân thiện. Họ nói ríu rít không ngưng. Và khi những người lính muốn tán tỉnh các cô gái và các cô này mỉm cười đáp trả, thì người Pháp hãi hùng nhận ra rằng răng của họ đã được nhuộm đen.
Hạm đội nằm trước thành phố cảng
Hải Phòng của Bắc Việt Nam đã ba ngày rồi. Tướng Leclerc đã lên đất liền, để
đàm phán với các viên chỉ huy Trung Hoa Quốc gia. Về nguyên tắc, Chính phủ Tưởng
Giới Thạch ngay từ cuối tháng 2 đã đồng ý để cho người Pháp thay thế quân đội của
họ ở phía Bắc của vĩ tuyến 16. Nhưng quyền hạn của viên tổng tư lệnh đối với
các viên tư lệnh tỉnh Vân Nam của ông ấy, đã tràn vào Bắc Kỳ với những đám người
cướp bóc của họ, dường như là có giới hạn. Đám lính hỗn loạn của Trung Hoa Quốc
gia đó đã ập vào Bắc Việt Nam như một đàn châu chấu. Họ đã cướp bóc, hãm hiếp
và đối xử như đang ở trong một đất nước bị họ xâm chiếm. Việc rút quân đối với
họ hoàn toàn không đúng lúc.
Vào ngày thứ tư, tiếng đại bác
vang rền qua phong cảnh núi đá tuyệt đẹp của vịnh Hạ Long. Viên tổng tư lệnh Pháp
không còn kiên nhẫn được nữa. Một đội xung phong đã đổ bộ vào bờ biển, và chiếc
tuần dương hạm “Le Triomphant” đã từ cửa sông Hồng đi lên theo hướng các bến
tàu của Hải Phòng. Chiếc tuần dương hạm bị các khẩu đội pháo bờ biển nhắm bắn,
nhưng với một vài loạt đạn nó đã làm câm bặt sự phản kháng. Lá cờ trắng được
treo lên trên các vị trí của người Trung Quốc, và những người Pháp đổ bộ ngạc
nhiên nhận ra rằng các khẩu súng của quân địch, những khẩu súng mà các người
lính từ Vân Nam chẳng biết làm gì với nó, được điều khiển bởi tù binh Nhật.
Tôi quan sát những người lính
Trung Hoa Quốc gia không biết mệt. So với người Việt, họ tương đối to cao. Họ mặc
quân phục màu xanh da trời với xà cạp quấn dầy. Lúc hành quân, họ thích nhất là
đeo giày lên vai và đi chân đất. Ngược với người Bắc Kỳ, những người tò mò chen
chúc nhau quanh những kẻ mới đến và dò hỏi họ, có một bức tường tâm lý ngăn
cách đứng giữa người Pháp và người Trung Quốc, cái không bao giờ được phá vỡ.
Các thiên tử tuy là có xe tải mới xuất xưởng của General Motors và mỗi buổi
sáng đều tập thể dục dưới tiếng hét gây kinh sợ trong các công viên của Hải
Phòng, nhưng họ trông giống như một đám lính thời Trung cổ. Thương gia giàu có
người Hoa ở Hải Phòng, cũng bị những người đồng hương của mình cướp bóc không
kém gì người Việt, ghê tởm nhìn đám người đó và để mặc cho sự khinh thường của
đạo Khổng về tất cả những gì thuộc binh lính tự do tuôn chảy ra.
Người Nhật bị bắt làm tù binh thuộc
kiểu người hoàn toàn khác. Kỷ luật của quân đội này vẫn còn nguyên vẹn, và các
sĩ quan ra vẻ quan trọng đi lại giữa những người dưới quyền của họ như những
con mèo đực mang ủng. Sau đó, người Nhật đứng thành hàng ngàn người ở các bến
tàu và lên tàu chở hàng để trở về đất nước mặt trời mọc sau chiến bại đầu tiên
trong lịch sử nhiều ngàn năm của họ.
Lần đầu tiên, các nhà hành chính
người Pháp và các chuyên gia Đông Á, những người quay trở lại Bắc Kỳ, mới cảm
nhận rằng họ đang đứng đối diện với một thế giới đã thay đổi hoàn toàn và đối
diện với những sức mạnh khổng lồ không thể kiểm soát được. Tướng Leclerc de
Hautecloque nhận thức được tình hình mới sớm nhất. Trong một quyển tiểu thuyết
của Hemingway, ông ấy đã bị phác họa một cách không đúng như là một người quý tộc
kiêu căng. Từ năm 1940, Leclerc đã tập họp những nhóm đầu tiên của Lực lượng
Pháp Tự do ở Trung Phi và trong thời gian ba năm sau đó đã cùng với họ kéo qua
sa mạc của Tchad và Libya cho tới bờ biển Địa Trung Hải, và Tướng Eisenhower đã
có đủ lịch sự để cho đơn vị Pháp này là nhóm quân đầu tiên của phe Đồng Minh tiến
quân vào Paris. Leclerc đã cảm ơn ông ấy một cách không tốt, vì chống lại mệnh
lệnh dứt khoát của viên Tổng Tư lệnh Đồng Minh, trong mùa Đông 1944/45 ông ấy
đã tiến quân qua vùng núi Vosges vào đồng bằng sông Rhein về đến thành phố
Strasbourg, thể theo một lời thề mà ông ấy đã thề dưới những cây dừa của ốc đảo
Kufra, và đã kéo lá cờ Tricolore lên trên nhà thờ ở đó. Người đàn ông gầy và bướng
bỉnh này, người mà không bao giờ rời cây gậy của mình, đã gặp một đồng lõa khác
biệt ở Bắc Việt Nam, gặp nhà cách mạng Hồ Chí Minh.
Có ít người Pháp, những người ở
Đông Dương lúc bấy giờ, là hiểu được ý nghĩa sâu xa của các tiếp xúc bí mật giữa
Leclerc và “Bác Hồ”, như ông được những người đi theo ông gọi, ông Đô đốc
Thierry d’Argenlieu đó lại càng không, người nhận nhiệm vụ từ de Gaulles, được
trao toàn quyền về hành chính, đến Viễn Đông như là cao ủy Pháp. Trước chiến
tranh, d’Argenlieu, cũng là một người theo de Gaulle từ giờ phút đầu tiên, là
tu viện trưởng của một tu viện dòng Cát Minh. Ở Đông Dương, ông ấy cư xử như một
hiệp sĩ Thập Tự Chinh đến muộn, chống lại mọi thỏa hiệp với kẻ thù của Pháp và
bị báo chí cánh tả ở Paris gọi là “nhà tu khát máu”.
Nhà dân tộc chủ nghĩa Hồ Chí Minh
đã hiểu theo bản năng, rằng việc người Trung Quốc ở lại Bắc Kỳ sẽ gây tai hại
cho nền độc lập của Việt Nam nhiều hơn là một thỏa thuận tạm thời với người
Pháp. Cuối cùng thì sự thống trị của thực dân Pháp chỉ kéo dài gần một thế kỷ,
nhưng từ hai ngàn năm nay dân tộc Việt Nam đã phải chống lại sự lệ thuộc hóa và
chống lại sự đồng hóa hoàn toàn bởi Trung Quốc. Thêm vào đó là các cân nhắc
chính trị hiện thời. Phát hiện ra một chính phủ Mácxít dưới sự lãnh đạo của mặt
trận tập hợp dân tộc Việt Minh, người Trung Quốc Quốc Dân Đảng nghi ngờ Hồ Chí
Minh, người đứng trong cùng một tư tưởng hệ như kẻ thù không đội trời chung Mao
Trạch Đông của họ. Cả trong Đông Dương cũng có những người dân tộc chủ nghĩa
trung lưu, hướng theo ví dụ Trung Quốc của Tưởng Giới Thạch. Năm 1931, họ đã tạo
một cuộc khởi nghĩa chống lại người Pháp, cái bị cơ quan thuộc địa nhận chìm
trong máu. Vào thời đó, Đảng Cộng sản Đông Dương cũng nhờ vào sự giúp đỡ của
người Mácxít Pháp mà thành lập được một vài chi bộ. Thời điểm của Hồ chỉ đến
khi những thăng trầm của Đệ nhị thế chiến giao lại cơ hội to lớn cho nhóm du
kích quân được tổ chức hơn hẳn của ông. Đi theo sau Quốc Dân Đảng, những người
dân tộc chủ nghĩa trung lưu của phong trào “Việt Nam Quốc Dân Đảng” hay VNQDĐ
đã trở về Hà Nội, và người Trung Quốc đã bắt buộc Hồ Chí Minh phải nhận những kẻ
thù giai cấp đó vào trong chính phủ của ông, những người mà ông hết sức căm
thù. Trong mùa Đông 1945/46, giữa Việt Minh và VNQDĐ ngày càng có xung đột dữ dội
hơn, tới mức việc nhanh chóng thay thế người Trung Quốc bởi người Pháp đã trở
thành một câu hỏi sống còn cho Hồ Chí Minh.
Tướng Leclerc về phần mình nhìn
nhà Mácxít Hồ Chí Minh như là một đồng minh có thể. Thuộc địa Pháp từ sau cuộc
bại trận năm 1940 thế nào đi chăng nữa thì cũng thuộc về quá khứ và cần phải được
thay thế bằng những mối liên kết mới, tự do, giữa nước mẹ và những lãnh thổ hải
ngoại của nó. Hồ Chí Minh đã đề nghị là nước Cộng hòa Việt Nam sẽ ở lại trong một
liên minh quốc gia với Pháp. Ông muốn tạm thời chuyển các chủ quyền cơ bản trên
lĩnh vực ngoại giao, quốc phòng và chính sách tiền tệ về cho Paris. Một thỏa
thuận kỳ lạ đã diễn ra vào thời điểm đó: việc người Pháp đổ bộ vào phía Bắc của
vĩ tuyến 16 đã cứu những người cộng sản Bắc Kỳ ra khỏi gọng kìm của Quốc Dân Đảng
và VNQDĐ; về chính sách đối nội, Đệ tứ Cộng hòa Pháp, cái cũng vừa mới được xác
nhận qua một cuộc trưng cần dân ý, giao cho Việt Minh toàn quyền ở Bắc Việt
Nam. Bù vào đó cho người Pháp, lính Tưởng Giới Thạch sẽ rút quân và Đông Dương
sẽ ở lại trong một liên minh hải ngoại Pháp, cái trong văn bản hiến pháp mới có
tên là Union Française.
Cả hai bên hẳn biết rằng mình đã
thỏa thuận với quỷ. Trong quân đội Pháp, người ta không thật sự muốn phi thuộc
địa hóa, và phần lớn các sĩ quan bảo thủ đều ghét cay ghét đắng các chính ủy Việt
Minh đỏ. Sau khi những người Trung Quốc mang đầy chiến lợi phẩm cuối cùng rồi
cũng hành quân trở về Trung Quốc qua biên giới ở Quảng Tây và Vân Nam, các ủy
ban cách mạng của Việt Minh đầu tiên là dẹp sạch những đối thủ thuộc giới trung
lưu của họ và đã thảm sát các thành viên lãnh đạo của VNQDĐ trong thành phố Yên
Bái nhỏ bé. Người Pháp bất động đứng nhìn các lực lượng chống cộng sản này, các
lực lượng mà họ sẽ cay đắng cảm thấy thiếu trong những năm sau đó, bị thủ tiêu
như thế nào. Sau khi những người Trung Quốc phiền toái đã rút lui và sau cuộc
thảm sát ở Yên Bái, các đại tá của đạo quân viễn chinh trong thâm tâm rất nôn
nóng, muốn bóp cổ Việt Minh càng sớm càng tốt và dùng bạo lực vũ khí để tái
thành lập pax franca ở Viễn Đông.
Về phần mình, người Việt chẳng hề
che dấu những ý định thật sự của họ. Chữ “Độc Lập” kỳ diệu được viết bằng mực đỏ
và bằng những chữ cái khổng lồ trên mỗi một bức tường, trên nhựa đường của mỗi
một con đường. “Độc Lập” có nghĩa là “độc lập” và chỉ có một kẻ ngu đần mới có
thể cho rằng các nhà dân tộc chủ nghĩa cuồng tín có niềm tin Mácxít này sẽ từ bỏ
hoàn toàn chủ quyền toàn vẹn, rằng sẽ có lần họ chịu xếp mình đứng dưới Paris
trong bất cứ một hình thức nào. Với cùng một sự dứt khoát đó, khẩu hiệu trên những
bức tường khác cũng yêu cầu sự thống nhất của “Ba Kỳ”, của ba phần đất Việt
Nam: Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Các nhà cách mạng của Việt Minh biết rằng giới
tài chính Pháp có nhiều ảnh hưởng ở xung quanh Banque de l’Indochine trong trường
hợp khẩn cấp thì cũng sẵn sàng phó mặc vùng đồng bằng sông Hồng quá đông dân với
lượng người đang đói khổ cho số phận của nó, cũng như bỏ vùng đồi núi không mến
khách của Trung Kỳ. Nhưng họ cũng biết rằng những nhóm có nhiều ảnh hưởng này sẽ
không từ bỏ sở hữu của họ ở Nam Kỳ, từ bỏ đồng bằng ruộng lúa ở cạnh sông Cửu
Long, những đồn điền cao su mang lại nhiều lợi nhuận của miền Nam và muốn tạo từ
vùng đất này một nước cộng hòa riêng với sự khoan hồng của Pháp.
Trong những tuần đó, Hải Phòng có
một quang cảnh kỳ lạ. Bây giờ bay phất phới bên cạnh Tricolore là lá cờ đỏ với
ngôi sao vàng đã được chính thức hóa của Việt Minh. Cộng hòa Việt Nam trẻ tuổi
có quân đội riêng, mặc quân phục màu nâu rỉ sắt. Những người lính đội nón cối
màu xanh thêm vào đó. Vũ khí của họ phần lớn có nguồn gốc từ các kho vũ khí của
Nhật. Cùng với bộ binh thuộc địa Pháp, những người đàn ông nhỏ bé này của Bác Hồ
được gửi đi trong các đội tuần tra hỗn hợp. Trong thực tế, các đối tác tình cờ
này đứng đối diện với nhau như chó với mèo. Các bộ tham mưu Pháp xem đó là một
sự sỉ nhục, khi họ phải thương lượng bình đẳng với những kẻ bắn lén đó, mà người
dẫn đầu về quân sự của họ, một Võ Nguyên Giáp nào đó, đã có được các kiến thức
chiến lược của mình nhờ là thầy giáo dạy Sử. Sự thật, rằng Giáp là một người
hâm mộ tướng Bonaparte, chỉ mang lại cho ông ấy một nụ cười thương hại.
Mùa mưa lạnh lẽo chấm dứt một
cách đột ngột. Trong vòng một tuần, Bắc Kỳ biến đổi trở thành một cái lò nóng rực.
Những dãy đồi núi lởm chởm đầu tiên bây giờ gần như có thể với tới được. Ai
cũng cảm nhận được rằng Bắc Việt Nam sẽ là một chiến trường khó nhọc. Hải Phòng
– ngoại trừ hai quảng trường có thể mang lại danh dự cho một tỉnh lỵ nhỏ của
Pháp – là một thị trấn xấu xí. Thế nhưng trong tháng Xuân này, hoa phượng vĩ và
hoa phượng tím nở rộ rực rỡ trong màu đỏ như lửa và màu tím.
Thời đó tôi được phân cho ở cạnh
một con kênh đào, trong một vùng tương đối buồn tẻ, nơi những khu phố ngoại ô xấu
xí của Hải Phòng chuyển sang cái rộng lớn đơn điệu của những cánh đồng lúa. Đêm
nào cũng có những bài hát chiến đấu cách mạng vang lên trong những làng ở gần
đó. Chúng tôi dùng ống nhòm quan sát dân quân Việt Minh diễn tập, những người
do thiếu súng ống mà thường phải cầm cây tre. Khi có các xác chết không toàn
thây của ba công binh Pháp trôi dạt trên con kênh đào tìm đường ra biển vào một
buổi sáng sớm, chúng tôi biết rằng sẽ không còn lại được bao nhiêu ngày của sự
yên lặng dối trá này. Một tuần sau đó, tôi lại được gọi về Sài Gòn và xuống chiếc
tàu tuần dương “Tourville” trong vịnh Hạ Long. Trong mặt trời đỏ về chiều, một
phong cảnh đẹp đến ngạt thở phô bày ra cho tôi. Từ những làn nước yên lặng
trong vịnh, lấp lánh như vàng nguyên chất trong ánh sáng muộn, những tảng núi
đá vôi đen đứng sừng sững như những tấm bia mộ thời hoang sơ. Các chiếc thuyền
buồm đi thành những vòng cung rộng lớn và chuyển động trước ngôi tinh tú đang
chìm xuống như những con côn trùng quay vòng quanh một ngọn lửa.
Phan Ba trích dịch từ “Der Tod im
Reisfeld – Dreißig Jahre Krieg in Indochina” [“Cái chết trên ruộng lúa – Ba
mươi năm chiến tranh ở Đông Dương”]
Peter Scholl-Latour sinh năm 1924
ở Bochum, Đức. Năm 1945/46 ông phục vụ trong Commando Parachutiste Ponchardie,
một đơn vị nhảy dù của Pháp, đã tham chiến ở Đông Dương. Sau đó, ông học đại học
và kết thúc với bằng tiến sĩ tại các trường Đại học Sorbonne ở Paris và
Université Saint-Joseph tại Beirut. Ông là người thành lập (năm 1963) và là
giám đốc studio ở Paris của đài truyền hình nhà nước Đức ARD (cho tới 1969),
sau đó là sếp thông tín viên của đài truyền hình nhà nước Đức ZDF (cho tới
1983). Từ Paris, Scholl-Latour thường xuyên sang Việt Nam dưới tư cách là thông
tín viên đặc biệt, từng bị Việt Cộng bắt tạm giam một tuần năm 1973. Ông sang
Việt Nam thêm một lần nữa vào năm 1976, sang Campuchia năm 1980, Trung Quốc và
Afghanistan năm 1981. Bắt đầu từ năm
1983, ông chuyển sang hoạt động trong giới truyền thông in và từ 1988 là tác giả
tự do.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét