Biên tập: Nguyễn Huy Hoàng
Nguồn: Michael Heise, “Rewriting the Monetary-Policy
Script,” Project Syndicate, 02/03/2017.
Các ngân hàng trung ương lớn sẽ còn tiếp tục mù quáng dựa
vào những luật lệ cứng nhắc để kiểm soát lạm phát và kích thích tăng trưởng
trong bao lâu nữa? Với những lợi ích rõ ràng của chính sách tiền tệ linh hoạt,
các nhà điều hành ngân hàng trung ương cần nhìn vào những cơ hội mà sự linh hoạt
có thể mang lại.
Từ lâu, quy tắc vàng của các nhà hoạch định chính sách tiền
tệ là nếu lạm phát xuống dưới khoảng mục tiêu chính thức, lãi suất ngắn hạn sẽ
được điều chỉnh xuống một mức có thể thúc đẩy tiêu dùng và đầu tư. Cách tiếp cận
này có nghĩa là một khi lãi suất ngân hàng xuống gần đến hoặc đến mức 0%, các
ngân hàng trung ương sẽ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc kích hoạt các
chương trình mua tài sản lớn với nhiệm vụ kích cầu. Khi tình huống này xảy ra,
các nhà hoạch định chính sách tự động đi theo các kịch bản định trước của các
mô hình kinh tế tân Keynes.
Nhưng trong quá nhiều trường hợp, các kịch bản này lại dẫn
chúng ta đi lạc đường, bởi chúng giả định rằng chính sách tiền tệ có tác động
đo đếm được và tiên liệu được lên nhu cầu và lạm phát. Có hàng loạt lý do để
nghi ngờ giả định này.
Đầu tiên, các hộ gia đình không phản ứng với lãi suất siêu
thấp bằng cách giảm tiết kiệm và tăng chi tiêu. Nếu tiết kiệm không còn sinh lời,
về lâu dài người dân sẽ không thể mua được những món đồ có giá trị lớn hoặc chi
trả cho bảo hiểm hưu trí. Tương tự, các công ty ngày nay phải đối mặt với nhiều
bất trắc và rủi ro đến nỗi ngay cả việc chi phí vốn vay chưa bao giờ thấp đến
thế cũng không thu hút họ đầu tư nhiều hơn.
Dù số liệu có như thế nào đi nữa, rất dễ hiểu tại sao các
công thức định trước lại hấp dẫn với các nhà làm chính sách. Kinh nghiệm phổ biến
là để đưa tỷ lệ lạm phát trở lại mức mong muốn, cần phải loại bỏ bất cứ khu vực
nhàn rỗi nào trong nền kinh tế. Điều này đòi hỏi đẩy lãi suất xuống càng thấp
càng tốt, và khi các chính sách đã phát huy hết hiệu quả (như khi lãi suất chạm
tới mức âm), các công cụ phi truyền thống như “nới lỏng định lượng” phải được
triển khai nhằm phục hồi tăng trưởng và lạm phát. Mô thức này đã được chấp nhận
phổ biến trên toàn thế giới – và các mô phỏng mô hình đứng sau những quyết định
của các ngân hàng trung ương đã trở nên quá phức tạp – đến mức rất ít người sẵn
sàng nghi ngờ nó. Với cá nhân các ngân hàng trung ương hoặc các nhà kinh tế học,
làm như vậy sẽ là báng bổ.
Các ngân hàng trung ương không phủ nhận hoàn toàn các chi
phí kinh tế mà những chính sách này gây ra: chẳng hạn như các thị trường tài
chính phát triển nóng, khả năng huy động tài chính suy giảm của các hệ thống quỹ
hưu trí, và bất bình đẳng tài sản sâu hơn. Nhưng những chi phí này có thể được
coi là cái giá chấp nhận được để đạt mức lạm phát đã được xác định rõ ràng.
Nhưng các chính sách được theo đuổi trong những năm gần đây
không tính tới những thứ vô hình – môi trường chính trị bất ổn, các chấn động địa
chính trị, hay rủi ro gia tăng trong thị trường tài chính – vốn có thể làm các
mô hình đi chệch hướng. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đã chứng tỏ rằng việc
phân bổ rủi ro như thông thường không giúp được gì cho các dự báo.
Keynes chưa bao giờ ngừng lập luận rằng chính sách tiền tệ sẽ
trở nên thiếu hiệu quả nếu sự bất định là đủ lớn để gây bất ổn cho những kỳ vọng
của người tiêu dùng và nhà đầu tư. Đáng tiếc là nhiều ngân hàng trung ương đã
quên mất điều này. Ngân hàng Nhật Bản, Ngân hàng Anh, và Ngân hàng Trung ương
châu Âu đều đang tuân theo những quy tắc chính sách khá cứng nhắc. Nếu các
chính sách nới lỏng không đạt được hiệu quả mong muốn là nâng lạm phát lên mức
định trước là khoảng 2%, họ vẫn không nghi ngờ các mô hình của mình, mà chỉ đơn
giản là tăng liều lượng chính sách lên – đúng như những gì thị trường kỳ vọng.
Hiện nay, Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Fed) có bộ công cụ
linh hoạt nhất trong số các ngân hàng trung ương lớn. Bên cạnh áp lực về lạm
phát, chính sách tiền tệ của Fed còn phải tính đến thống kê về việc làm, số liệu
tăng trưởng, và tính ổn định của các thị trường tài chính. Nhưng ngay cả sự
linh hoạt của Fed cũng đang bị đe dọa. Các nhà làm luật Đảng Cộng hòa đang thảo
luận cách buộc Fed vào các quy định chính sách có tính định sẵn hơn nhằm quản
lý lạm phát (sử dụng một công thức gọi là quy tắc Taylor, định trước những thay
đổi trong mức lãi suất liên bang trong tương quan với lạm phát và mức thiếu hụt
sản lượng). Không phải nói, động thái như vậy sẽ là sai lầm.
Các ngân hàng trung ương (chưa nói tới các nhà làm luật), vốn
gắn bó chặt chẽ với thuyết tân Keynes, đang làm ngơ trước một bài học lớn rút
ra từ hàng thập niên thí điểm chính sách tiền tệ: chúng ta không thể dự đoán được
tác động của chính sách tiền tệ với mức độ chắc chắn hoặc chính xác cao. Nhưng
niềm tin là chúng ta có thể dự đoán được nó lại rất quan trọng đối với uy tín của
những mục tiêu lạm phát mà nay đã thành chuẩn mực. Nếu các ngân hàng trung ương
tiếp tục bỏ lỡ những dấu hiệu khá nhỏ này (“dưới, nhưng sát 2%”), cuối cùng họ
sẽ rơi vào một cái bẫy kỳ vọng, nơi các thị trường kỳ vọng họ đưa ra liều thuốc
chính sách tiền tệ ngày càng cao trong một nỗ lực điên cuồng nhằm đạt được mục
tiêu.
Rõ ràng là những chính sách tiền tệ như vậy tạo ra những chi
phí và rủi ro cao ngất ngưởng cho nền kinh tế. Và bản thân các ngân hàng trung
ương đang ngày càng tiến đến gần hình ảnh của các cơ quan tài khóa một cách
nguy hiểm, điều có thể làm giảm tính chính danh của họ.
Một mô thức tiền tệ mới và thực tế hơn là loại bỏ những luật
lệ quá cứng nhắc vốn là hiện thân của lời ngụy biện rằng chính sách tiền tệ lúc
nào cũng có hiệu quả. Nó sẽ cho các ngân hàng trung ương nhiều dư địa hơn để
tính đến những rủi ro và chi phí của các chính sách tiền tệ. Với một mô thức
như vậy, các ngân hàng trung ương có thể tránh được lãi suất âm và việc mua tài
sản trên quy mô lớn. Họ sẽ xác định các mục tiêu lạm phát linh hoạt hơn, nhằm
tránh bị buộc phải hành động bất cứ khi nào “những sự không chắc chắn” như giá
dầu giảm hay điều chỉnh lương theo yêu cầu khiến cho lạm phát lên cao hơn hoặc
xuống dưới mức 2%.
Có lẽ quan trọng nhất là một mô thức mới sẽ thừa nhận những
hạn chế trong quyền lực và tầm nhìn của các ngân hàng trung ương. Điều đó sẽ loại
bỏ một bằng chứng ngoại phạm mà các chính phủ thường xuyên núp sau để tránh phải
đưa ra những cải cách cơ cấu thực sự quan trọng đối với tăng trưởng dài hạn.
*
Michael Heise, nhà kinh tế trưởng của Allianz SE, là tác giả
cuốn Emerging From the Euro Debt Crisis: Making the Single Currency Work.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét