(Người viết xin phép Nhà văn quá cố Thanh Tịnh- tác giả “Tôi đi học”)
Hàng năm cứ vào cuối Tháng Tư, khi cờ đỏ, phướn đỏ cùng với những
băng đỏ rực màu máu ngoài đường trương lên nhiều hơn, và trong không
gian nhao nhác lên khác thường tiếng loa phường oang oang “Đại thắng mùa
xuân 75”, lòng tôi lại sôi sục nhớ tới ngày tôi đi chạy giặc.
Tôi không thể nào quên được những cảm giác đen như hang Pắc Bó trong buổi sáng hôm ấy, vì chính từ đây mà tôi bắt đầu bị “Đôi dép râu dẫm nát đời trai trẻ... Nón tai bèo che khuất nẻo tương lai”.
Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì viết ra những gì mình suy nghĩ theo “tư tưởng bác Hồ” không có gì quý hơn độc lập tự do là thằng cháu làm theo lời bác dạy này sẽ chết ngay với các đồng chóe cắt mạng của boác.
Nay đã luống tuổi rồi, tôi không tài nào nhớ hết, nhưng mỗi lần bị cái
loa trước ngõ chỏ vào nhà bốc phét không biết mệt về “Ngày Giải Phóng”,
lòng tôi lại nóng bừng lên do vết Phỏng...; mặc dầu tôi đã hết sức phấn
đấu chữa trị bằng thuốc Cáo (cao Sắc)-đơn-hoàn-tán nhãn hiệu cầu chứng
tại tòa xã hội chủ nghĩa NQ.36 HGHH ròng rã 42 năm, song “nó” chẳng
những không chịu “bắt da” mà ngày càng nở hoa toét loét rồi biến thành
di căn, lăn tăn khắp “vùng Dải Phóng”; giờ đây tôi chỉ còn chút tia hy
vọng, là chờ đến ngày đi chầu ông bà ông vải, may ra mới “có khả năng”
hết hội chứng... Hồ thương (bệnh Hồ...).
Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy khói mù từ những đám cháy nhiều nơi do
hỏa tiễn giặc rót suốt đêm qua vào thành phố xưa nay êm ả - ngoại trừ
lần Tết mậu Thân 1968. Mẹ tôi hối hả chụp tay tôi dẫn chạy về hướng Chùa
Khải Đoan. Con đường Quang Trung tôi đã quen đi lại cả tỷ lần, nhưng
lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quang tôi đều thay đổi;
không phải do lòng tôi thay đổi, mà chính vì thành phố đang bị đổi chủ.
Tôi không còn thấy những chú lính trong bộ quân phục lúc nào cùng tươm
tất, đầu đội cái mũ bê-rê đen lệch một bên, chân mang giày cổ cao bóng
loáng, áo quần ủi hồ thẳng tắp; trông rất lịch sự, và các chú ấy hay
tươi cười với những người dân đi ngược chiều mỗi khi xuống phố. Thay
vào đó, hôm nay lố ngố những người ăn mặc lạ kỳ: họ đội cái thứ gì trên
đầu trông giống như cái cối lật úp, lại có thứ thì y hệt cái tai bèo
nhèo; áo quần thì thùng thình thụng thịnh, họ mặc mà cứ như bơi trong
đống vải; chân thì mang dép tua tủa những râu; thỉnh thoảng tôi thấy có
người bịt mồm bằng cái gì giống hệt như cái nịt ngực của mẹ và của chị
tôi; chỉ có điều họ hoàn toàn ai cũng như ai ở chỗ bộ mặt gằm ghè, tay
lăm le súng AK đầu cắm lưỡi lê nhọn hoắc, họ vừa đi vừa chỉa vào đám
đông dân chúng, và dị nhất là họ nói như nói tiếng nước lạ; tôi nghe,
“hiểu chết liền!”.
Dọc đường, khi thấy mấy cô cậu nhỏ trạc tuổi hốt hoảng gọi tên nhau, tôi
mới sực nhớ tới cô bạn học cùng xóm và đảo mắt tìm kiếm khắp nơi nhưng
không thấy, và cũng chính từ buổi sáng giặc vào thành phố thân yêu ấy
đến nay đã 42 năm, tôi chẳng những không được gặp lại, mà biệt luôn tăm
tích người bạn thân ái ngày xưa còn bé; để tôi vẫn mãi ân hận đến nay về
buổi mai hôm ấy trong cơn hoảng loạn, tôi đã không nhớ sang rủ bạn cùng
đi chạy giặc như mỗi buổi sáng tôi sang nhà rủ em đi học suốt bao năm
qua (1).
Viết đến đây, bất chợt tôi “tự diễn biến, tự chuyển hóa” ra rằng, kể lại
cho hết chuyện tôi đi chạy giặc 75, phải mất cả cuốn sách dày, mà ở đây
thì khuôn khổ có hạn, nên tôi không thể kể “đúng quy trình” đã định như
người ta “xả lũ”. Tôi chỉ biết ghi lên đây lòng cảm tạ Ơn Trên đã phù
hộ gia đình tôi, sau một tháng rưỡi tròi chạy giặc, vẫn còn nguyên vẹn
khi đến Thủ đô Sài Gòn, trong khi hàng trăm ngàn người đã bỏ mạng vì đói
khát, bệnh tật, thú dữ, nhưng hầu hết chết vì đạn pháo của giặc. Trong
đó có chuyện một người mẹ, một tay ôm đứa con nhỏ, tay kia gói gia sản
chạy giặc từ Cao Nguyên, khi đến được Nha Trang (hay Tuy Hòa lâu ngày
tôi không còn nhớ rõ) trên tay bà chỉ còn túi đồ: trong cơn hoảng loạn
do giặc bắn và pháo xối xả vào đoàn người bà mẹ đã quẳng đi đứa con mà
bà cứ nghĩ là bà quăng túi đồ để còn sức ôm con mà chạy giặc (2).
---
Ngày đó, chạy giặc thì chạy nhưng lòng tôi vẫn ấm ức thắc mắc, không
hiểu nổi chuyện đã gọi là “Giải Phóng” thì cớ sao quân ấy (“Giải Phóng”)
đi đến đâu là đồng bào mình tức thì bỏ của chạy lấy người trối chết
khỏi nơi đó và đi về phía Quốc Gia mà Cắt mạng gọi là “Ngụy”. Sau này
đối đầu vơi thực tế, tôi mới bật ngửa té ra, thì, sông có thể cạn núi có
thể mòn, nhưng chạy mặt giặc CS là phản ứng tự nhiên và tất yếu của
những ai còn muốn sống “sao được cho ra cái giống người” như lời cụ Tú
Xương.
Tôi tưởng chạy giặc như vậy là đã xong, nhưng nào có xong đâu. Chạy cho
cố rồi vẫn không thoát được cái số sống trong lòng giặc. Đã 42 năm!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét