Bauxite Việt Nam
|
Tính
đến năm 2017, TRẦN TRỌNG KIM (1883-1953) đã từ trần được 64 năm. Ông là
một học giả danh tiếng cùng thời với Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936), Phạm
Quỳnh (1892-1945), cũng là một chính khách đáng kính trọng, xuất hiện
trong khúc ngoặt của lịch sử dân tộc thập niên 40 thế kỷ trước. Nhưng
ông đã không được văn đàn chính thống nhắc đến kể từ khi lìa trần đến
nay.
Vừa
qua, nhà báo Huy Đức có làm một cuộc hành hương về tận quê hương Trần
Trọng Kim ở Nghi Xuân, Hà Tĩnh để tìm kiếm phần mộ của ông, nhân đó cho
công bố trên mạng một số tài liệu quý mới sưu tầm được. Bauxite Việt Nam xin
mượn lại những tài liệu này đăng lên trang nhà kèm theo những dòng Huy
Đức viết, để tưởng nhớ một tài năng và một nhân cách trong lịch sử cận
hiện đại Việt Nam mà chắc chắn các thế hệ sau sẽ còn nhiều dịp phải tiếp
cận.
Cùng chung một ý nguyện, GS Lê Xuân Khoa cư ngụ tại Hoa Kỳ có nhã ý gửi đến BVN một số trang viết về “Chính phủ Trần Trọng Kim” trích trong cuốn Việt Nam 1945-1995 của ông, công bố từ năm 2004, do báo Người Việt và
Amazon mới tái bản. Được ông vui lòng cho phép, chúng tôi xin đăng trọn
phần phân tích công phu, thỏa đáng kể trên vào tiếp sau những tài liệu
thư tịch và ảnh mới phát hiện của Huy Đức, nhằm giúp soi tỏ lại việc
đánh giá Trần Trọng Kim trong vai trò con người chính trị mà một thời vẫn bị ám ảnh bởi thành kiến sai lạc “Thủ tướng bù nhìn”.
Cám ơn nhà báo Huy Đức, GS Lê Xuân Khoa và trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc
Bauxite Việt Nam
|
Lời điếu của Quốc trưởng Bảo Đại do Đổng lý văn phòng đọc trong Tang lễ cụ Trần Trọng Kim.
Lời điếu của Quốc trưởng Bảo Đại do Đổng lý văn phòng đọc trong Tang lễ cụ Trần Trọng Kim
QUỐC GIA VIỆT NAM
ĐỨC QUỐC TRƯỞNG
BẢO ĐẠI
Ông nguyên Thủ tướng,
Được
tin Ông từ trần, lòng tôi thương cảm vô hạn. Vẫn biết tuổi Ông đã gọi
là thọ; sự nghiệp văn hóa, chánh trị của Ông đã biểu dương một thân thế
cao quý. Song tôi không khỏi ngậm ngùi nhớ rằng mới cách đây mấy hôm,
tôi còn vui thấy Ông tinh thần vẫn tráng kiện, chí khí còn hăm hở, và
tưởng rằng trong những ngày sắp tới là lúc Tổ quốc cần hết thảy những
con dân tài đức như Ông, Ông tuy tuổi cao sức yếu, vẫn có thể phục vụ
giang sơn như suốt cả cuộc đời tận tụy của Ông!
Lịch sử sẽ ghi thanh danh ông, thanh danh một nhà mô phạm biệt tài, một nhà văn học lỗi lạc, một nhà chí sỹ ái quốc. Và thân thế trong trắng của Ông đã làm gương cho kẻ đương thời sẽ làm gương cho lớp hậu thế.
Riêng đối với tôi, tôi không quên rằng trong những giai đoạn khó khăn của lịch sử, lúc nào Ông cũng sẵn sàng hăng hái làm người cộng sự đắc lực của tôi: nào khi Ông nhận đảm đương sứ mạng nặng nề điều khiển con thuyền quốc gia trong khi thế nước chông chênh; nào lúc tòng vong ở nơi hải ngoại khi tôi tranh đấu để mang lại cho dân tộc một hy vọng, một tin tưởng ở tương lai; nào buổi mới đây tuy tuổi đã ngoài 70 mà Ông còn hăng hái đứng lên đảm nhiệm trọng trách Chủ tịch hội nghị toàn quốc trong cuộc tường bày ý nguyện của dân tộc.
Ông thực đã xứng đáng với dân tộc. Ông quả đã xứng đáng với lòng tín cẩn của tôi.
Công trạng ấy tôi không quên.
Quốc dân cũng không quên. Lịch sử sẽ ghi công của người con ưu tú của đất nước.
Tin rằng hương hồn ông sẽ được tiêu diêu nơi cực lạc.
Bà nguyên Thủ tướng,
Tôi
đề lời phân ưu cùng bà và toàn gia. Tôi mong rằng lòng tiếc thương của
hết thảy quốc dân đối với cố Thủ tướng sẽ làm cho bà nhẹ bớt một phần
nào nỗi đau đớn về dịp này và sự nghiệp lâu dài của cố Thủ tướng sẽ làm
cho bà được cái an ủi rằng sự nghiệp ấy còn cũng như là người chí sĩ
khuất núi vẫn còn!
.
Viếng cụ Trần Trọng Kim
Huy Đức
Nhờ
những người bạn ở Hà Tĩnh, hôm 24-5, tôi tìm đến được nơi đặt tro cốt
cụ Trần Trọng Kim ở tổ đình Vĩnh Nghiêm [Sài Gòn] và hôm qua, 25-5, tôi
gặp được bác Trần Xuân Điền, cháu đời thứ 3 của cụ Trần Trọng Kim ở Đan
Phổ, Nghi Xuân, Hà Tĩnh.
Lịch sử không có chữ
NẾU. Nhưng, đôi khi tôi vẫn cứ không cầm lòng được, suy nghĩ vẩn vơ,
Việt Nam sẽ ra sao, nếu từ tháng 8-1945 vẫn là "Chính phủ Trần Trọng
Kim"...
Trong năm 1945, người Việt có hai tuyên
bố độc lập: Ngày 11-3, Triều đình Huế tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre
ký với Pháp năm 1884, khôi phục chủ quyền Việt Nam; Ngày 2-9, tại Ba
Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập.
Độc lập không thật sự đến với Việt Nam vào tháng 3 cũng như vào tháng 9-1945.
Chỉ có Chính phủ Hồ Chí Minh, vào lúc ấy, mới chủ trương và có khả năng kháng chiến và thắng thế của Mao Trạch Đông trong cuộc nội chiến 1949 đã giúp những người cộng sản giành chiến thắng Điện Biên Phủ, dẫn tới Hiệp định Geneva 1954, chia cắt đất nước. Cuộc chiến tranh thống nhất VN kéo dài tới năm 1975; cuộc chiến tranh người Việt chống lại Khmer Đỏ (có bàn tay Bắc Kinh đâm sau lưng) và chống lại chính quân Trung Quốc xâm lược kéo dài tới 1989.
Chính phủ Trần Trọng Kim
và những người theo chủ nghĩa quốc gia như ông chỉ có thể đòi độc lập
thông qua đấu tranh chính trị và chủ yếu nhờ bàn cờ chính trị thay đổi
sau Thế chiến thứ II (Ở Đông Dương, người Pháp trả độc lập cho Sihanouk
1953). Chính phủ Trần Trọng Kim, nếu lãnh đạo một VN sau độc lập, sẽ rất
kỹ trị và chắc chắn sẽ kế thừa những di sản (vật thể hay phi vật thể)
của người Pháp.
Từ lâu, tôi vẫn muốn thắp một nén nhang viếng tác giả của Nho giáo, Việt Nam sử lược, Truyện Thúy Kiều... Theo hướng dẫn của bạn bè tôi đã về Đan Phổ và Thạch Kim, nơi có những người cháu gọi Cụ Lệ Thần bằng chú.
Tháng
Tư năm nay, khi cùng anh Le Hai & Trương Duy Nhất về Đan Phổ, người
làng đã dẫn ra khu mộ gia đình họ Trần và khẳng định, "Ông Thủ tướng bù
nhìn nằm ở đây", nhưng chúng tôi không tìm thấy tên Cụ. Về sau mới
biết, tin nói cụ được an táng ở quê là không đúng.
Sinh
ra trong một gia đình dòng dõi, cha là Trần Bá Huân (1838-1894) từng là
một văn thân tham gia phong trào Cần Vương. Trần Trọng Kim mất cha năm 9
tuổi, mất mẹ năm 10 tuổi, anh ruột là Trần Bá Hoan nuôi được mấy năm,
do quá túng quẫn phải đưa hai em, Trần Trọng Kim và Trần Thị Liên, cho
nhà khác làm con nuôi. Hai không gian giáo dục sau đó đã đưa Kim và Liên
đi theo hai con đường rất xa nhau. Người em theo phong trào cộng sản từ
năm 1930, 1931, trở thành Chủ tịch Hội Phụ nữ tỉnh Nghệ An (mất năm
1964). Người anh được cha nuôi cho ăn học, trở thành một học giả, một
người có tinh thần quốc gia, dân tộc.
Năm 1953,
sau khi chủ trì Hội nghị Hội đồng toàn quốc, tuyên bố Việt Nam ra khỏi
Liên hiệp Pháp, cụ Trần Trọng Kim được Quốc trưởng Bảo Đại mời lên Đà
Lạt. Sau mấy tuần nghỉ ngơi, không hề có biểu hiện đau ốm, cụ ra đi nhẹ
nhàng sau một giấc ngủ trưa vào ngày 26 tháng Mười Âm lịch. Quốc trưởng
Bảo Đại cho máy bay đưa thi hài Cụ ra an táng tại nghĩa trang Cầu Giấy,
Hà Nội.
Năm 1987, Luật sư Phan Anh cho mời thân
nhân của cụ từ Sài Gòn, từ Pháp về. Chúng tôi chưa rõ từ đề nghị của ai
mà ngay trong dịp này Cụ được cải tảng, hỏa thiêu tại chỗ và tro cốt
được mang vào gửi tại chùa Vĩnh Nghiêm.
Cụ bà,
Bùi Thị Tuất - em gái cụ Bùi Kỷ, sinh sống ở Sài Gòn cho tới năm 1991.
Con gái của hai người, bà Trần Diệu Chương, sinh sống ở Pháp, hàng năm
vẫn viết thư về cho bác Trần Xuân Điền nhưng không hiểu sao từ hai năm
nay ông Điền không còn nhận được thư của bà Diệu Chương nữa (Bà cũng đã ở
tuổi gần 90). Những bức thư của bà Diệu Chương không chỉ là để nối tình
thân với họ hàng mà còn như muốn để lại những bằng chứng lịch sử về một
nhân vật mà chắc chắn rồi đây sẽ được nhìn nhận lại.
H.Đ.
Cụ bà Bùi Thị Tuất – Phu nhân Trần Trọng Kim
.
Tro cốt học giả Trần Trọng Kim đang gửi tại chùa Vĩnh Nghiêm
(đặt trên giá chung như một người vô danh)
.
Bốn
ngôi mộ trong nghĩa trang gia đình: phía sau là phần mộ song thân: cụ
Trần Bá Huân (1838-1894), cụ Nguyễn Thị Nhị và phần mộ người anh Trần Bá
Hoan và chị dâu, Lê Thị Vy (1884-1956).
.
Bà Trần Diệu Chương, con gái cụ Trần Trọng Kim, và người chồng Pháp.
.
Ông Trần Xuân Điền, cháu đời thứ 3, người đang lưu giữ nhiều tư liệu quý về cụ Trần Trọng Kim
.
Nhà báo Huy Đức và Ông Trần Xuân Điền. Tễu Blog chú thích ảnh.
Cô Ánh, cháu dâu của bác Trần Xuân Điền, công chức văn hóa xã Đan Phổ
.
Hàng năm, bà Trần Diệu Chương đều có thư về VN.
Bút tích của bà Diệu Chương gửi ông Điền
.
Những dòng chữ ghi sau bức chân dung cụ Trần Trọng Kim chụp 1953
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét