Dòng chữ "Equal Justice
Under Law" nổi tiếng được khắc trên toà nhà Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ ở
Washington D.C. Ảnh: WSJ.
Một chính quyền thượng tôn pháp
luật sẽ dễ dàng được người dân tôn trọng và phục tùng, bởi họ tin rằng chính
quyền này có khả năng đảm bảo công lý cho họ. Chính ý nghĩa này khiến cho chính
quyền nào cũng muốn khoác lên mình cái danh xưng ấy. Nó đã trở thành câu cửa miệng
của các chính trị gia, khiến họ liên tục kêu gọi thượng tôn pháp luật, mà Việt
Nam cũng không là ngoại lệ.
Vậy làm sao để ta biết được chính
quyền nào thực sự thượng tôn pháp luật, còn chính quyền nào thì không?
Theo giáo sư luật học Brian
Tamanaha, thượng tôn pháp luật có nghĩa là cả chính quyền lẫn người dân phải
cùng chịu sự ràng buộc bởi luật, và phải tuân theo luật. Định nghĩa này chứa đựng
ba hàm ý chính: giới hạn quyền lực nhà nước, đúng thủ tục pháp lý, và bình đẳng
trước pháp luật. [1]
Giới hạn quyền lực nhà nước
Một chính quyền chỉ được coi là
thượng tôn pháp luật khi nó bị ràng buộc bởi pháp luật hiện hành. Bằng không,
cái việc nó coi trọng pháp luật thực ra chỉ là thượng tôn chính nó. Như vậy,
quyền lực của nó phải bị giới hạn.
Trong quá khứ, người ta thường nhận
diện một chính quyền thượng tôn pháp luật bằng cách xem xét nó có cam kết hay hứa
hẹn gì về quyền lực của chính nó hay không.
Chính như Louis XIV, vị vua có
triều đại cai trị dài nhất châu Âu, hình mẫu của một nhà độc tài chuyên chế,
cũng từng tuyên bố: “Để mang lại hạnh phúc tối thượng cho một vương quốc, thì
các thần dân phải tuân theo quốc vương và chính vị quốc vương ấy phải tuân theo
pháp luật”. [2]
Magna Carta là một ví dụ nổi tiếng
khác cho thấy nhà vua đồng ý bị ràng buộc bởi pháp luật, khi giới quý tộc Anh nổi
dậy ép Vua John phải ký vào Đại hiến chương, trong đó định rõ nhà vua phải tuân
theo những cam kết nhất định. Bản cam kết năm 1215 này cũng chính là nền tảng của
hiến pháp bất thành văn của nước Anh sau này.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy rằng
những cam kết kiểu này khó được đảm bảo khi mà vua hoặc giới cai trị trở nên mạnh
hơn, lúc đó anh ta chẳng cần quan tâm mình đã từng cam kết những gì, và như thế
anh ta lại tiếp tục cai trị tùy tiện.
Do đó, vào thế kỷ 18, nhà tư tưởng
Montesquieu đã đề xuất một biện pháp khác. Đó chính là cơ chế phân chia và kiểm
soát quyền lực, được các nhà lập quốc Hoa Kỳ áp dụng để xây dựng nên chính quyền
Mỹ ngày nay. Giờ đây, cơ chế này được áp dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới
như Hàn Quốc, Indonesia, Mexico. Ngoài ra, các quốc gia theo mô hình nghị viện
như Nhật Bản, Anh, Canada cũng áp dụng một cơ chế kiểm soát và đối trọng tương
tự.
Cụ thể, khi áp dụng cơ chế tam
quyền phân lập thì quyền lực chính quyền không bị tập trung vào tay một người
hay một tổ chức như trước đây, mà được phân chia thành ba nhánh là lập pháp,
hành pháp, và tư pháp. Quyền lực của mỗi nhánh được quy định rõ ràng trong hiến
pháp, và mỗi nhánh đều có khả năng chống lại sự lạm quyền của các nhánh kia.
Chính sự đối trọng lẫn nhau giữa các nhánh chính quyền khiến cho quyền lực nhà
nước được tự kiểm soát.
Ngày nay, để biết được quyền lực
nhà nước có bị giới hạn hay không, chúng ta có thể xem xét hiến pháp của nó.
Đúng thủ tục pháp lý
Điều kiện thứ hai của một nhà nước
thượng tôn pháp luật là chính pháp luật phải tuân theo một hình thức hoặc thủ tục
được ấn định từ trước. Như giáo sư luật học Shen đã khẳng định “để đạt tới công
lý, thì ta phải áp dụng một cách nhất quán các luật lệ và thủ tục đã tạo nên hệ
thống.” [3]
Tại sao lại như vậy?
Thứ nhất, nếu không tuân theo các
thủ tục được coi là công bình và hợp pháp, thì rất khó để cho ra một kết quả hợp
pháp. Dĩ nhiên thôi, vì luật pháp còn có ý nghĩa gì nếu ta không tuân theo các
thủ tục pháp lý của nó?
Thứ hai, khi chính quyền buộc phải
tuân theo những thủ tục được quy định (trước khi họ có thể tước đoạt mạng sống,
tự do hay tài sản của công dân), thì mức rủi ro cai trị chuyên quyền sẽ giảm
thiểu, và cái viễn cảnh các quyền cá nhân bị tước đoạt một cách oan ức cũng sẽ
được hạn chế.
Cuối cùng, việc tuân theo thủ tục
giúp chúng ta có thể dự đoán trước được tiến trình của luật pháp, từ đó cho
phép ta chủ động trong cuộc sống.
Tuy nhiên, chúng ta phải lưu ý rằng
việc tuân theo thủ tục chỉ là một điều kiện cần của công lý, chứ không phải điều
kiện đủ. Ta cần phải hiểu rằng, khi luật bất công thì việc tuân theo thủ tục
pháp lý chỉ đơn thuần là củng cố sự bất công đó. Đã có vô số ví dụ về điều này,
chẳng hạn như nạn phân biệt chủng tộc ở Mỹ và Nam Phi trước đây.
Nếu ta đánh đồng việc “đúng thủ tục”
là “thượng tôn pháp luật”, thì ta chỉ đang đem lại tính chính danh về hình thức
cho những chế độ độc tài. Bởi vì, theo tư tưởng của triết gia John Rawls, “một
lý thuyết dù vẻ ngoài hay ho và hợp lý đến đâu cũng phải bị bác bỏ hoặc xem xét
lại nếu nó không đúng đắn; tương tự như vậy, luật pháp và các thiết chế xã hội
dù có được sắp đặt tốt và hữu hiệu đến đâu cũng cần phải cải cách hoặc hủy bỏ nếu
chúng không công bằng.” [4]
John Rawls (1921-2002), triết gia
chính trị người Mỹ.
Còn một lưu ý quan trọng khác, ấy
là luật pháp có thể thay đổi, và như thế thủ tục cũng sẽ thay đổi theo. Tuy
nhiên, chính quyền không thể tùy tiện muốn thay lúc nào thì thay, hay là thay
thế nào cũng được. Nhà bình luận thời trung cổ Ulpian đã khẳng định rằng, “nếu
luật được coi là công lý trong một thời gian dài, thì phải có lý do chính đáng
ta mới có thể thay đổi nó”. [5]
Ngày nay, trước khi thay đổi luật
pháp và đưa ra một bộ luật mới, ta phải xem xét nó có vi phạm quyền con người
và quyền hiến pháp hay không. Nếu có, thì đó là một bộ luật bất công, và các
công dân phải có nghĩa vụ chống lại nó thay vì tuân thủ theo các thủ tục của nó
một cách cứng nhắc.
Bình đẳng trước pháp luật
Không thể nói rằng một xã hội là
thượng tôn pháp luật khi mà các công dân của nó bị phân biệt đối xử.
Do đó, bình đẳng trước pháp luật
phải là một trong các tiêu chuẩn tiên quyết của việc thượng tôn pháp luật. Một
khẳng định của luật gia danh tiếng Dicey: “không một ai vượt trên được luật
pháp, mỗi người dù ở bất cứ cấp bậc hay địa vị nào đều phải tuân theo luật pháp
của quốc gia và phải phục tùng quyền tài phán của các tòa án. Bất kể là một
quân nhân hay giáo sĩ, nếu có được miễn những nghĩa vụ pháp lý thông thường nhờ
địa vị của họ, thì họ vẫn không thể trốn tránh những nghĩa vụ của một công dân
bình thường”. [6]
Ở những quốc gia theo hệ thống
thông luật, yếu tố “bình đẳng trước pháp luật” rất được coi trọng. Theo nguyên
tắc tiền lệ pháp (stare decisis), những phán quyết của tòa trong một vụ án đều
được đưa thành án lệ, làm khuôn mẫu xét xử để áp dụng cho những vụ việc tương tự.
***
Trên đây là ba điều kiện tiên quyết
để xem xét một chính quyền có thượng tôn pháp luật hay không. Ta có thể nói rằng,
chính quyền nào không thỏa mãn dù chỉ một trong ba điều kiện này thì không thể
coi là thượng tôn pháp luật.
Từ những kiến thức cơ bản trên,
ta có thể dễ dàng nhận diện các tuyên bố của giới chính trị gia, rằng đâu mới
là một chính quyền thượng tôn pháp luật thực sự, và đâu là lời tuyên bố giả tạo
trá hình. Mà một chính quyền không thượng tôn pháp luật thì không có tư cách gì
để kêu gọi người dân phải tuân theo pháp luật cả.



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét