
Tổng thống Harry S. Truman (1884-1972)
Thời còn đi học, tôi có lần được
đến thăm ngôi nhà riêng của cố Tổng Thống Harry Truman ở Independence,
Missouri. Hồi đó ông còn sống tuy đã lớn tuổi. Ông bà vẫn sống rất bình dị, căn
nhà ông bà ở người ra kẻ vào tự nhiên. Những năm của thập niên 1960, đất Mỹ còn
là một miền đất của thời thái bình, nhà cựu tổng thống không có canh gác cẩn mật.
Cựu tổng thống có một vài người phụ ông trả lời thư tín, nhưng vào nhà không ai
nghĩ đây là căn nhà của một vị cựu tổng thống Hoa Kỳ, mà lúc đó đã trở thành cường
quốc quan trọng nhất của thế giới.
Tổng Thống Harry S. Truman, vị tổng
thống thứ 33 của Hoa Kỳ là một con người bị đột ngột đưa vào chức vị quan trọng
nhất thế giới và ông đã chứng tỏ là một trong những vị tổng thống vĩ đại nhất của
Hoa Kỳ.
Sở dĩ tôi nhớ đến Tổng Thống
Truman vì câu chuyện giữa báo chí và Tổng Thống Donald J. Trump. Như nhà báo
Jeffrey Frank của tạp chí New Yorker nhắc nhở, ông Truman là người đã có lần gọi
báo chí là “báo chí phản bội và phá hoại,” nhưng ông cũng là một người kính nể
và tôn trọng quyền tự do báo chí. Và tôi cũng nghĩ đến ông Truman vì Hội Nghị
G-20 vừa qua.
Ngày 17 Tháng Tư, 1945, năm ngày
sau khi Tổng Thống Franklin D. Roosevelt đột quỵ và qua đời vì tai biến mạch
máu não ở Warm Springs, Georgia, tân tổng thống Harry S. Truman tổ chức cuộc họp
báo đầu tiên. Từ lần đó cho đến cuối nhiệm kỳ tổng thống của ông, ông tổ chức
324 cuộc họp báo, trong đó ông cố gắng, thường rất vui vẻ, trả lời những câu hỏi
của nhà báo. Lần đầu tiên đó, ông nói trước “Nếu quý vị hỏi tôi bất cứ điều gì,
tôi sẽ cố trả lời, và nếu tôi không biết, tôi sẽ nói tôi không biết.”
Ba tháng sau, ông Truman lên đường
đi Postdam ở Đức để dự một hội nghị thượng đỉnh, kéo dài đến hơn hai tuần lễ, với
các thành viên của “đại liên minh” vốn đã đánh bại Đức Quốc Xã: Lãnh tụ Liên Xô
Joseph Stalin, Thủ Tướng Anh Winston Churchill (vốn sắp bị thất cử và ngay tại
hội nghị đã được thay thế bởi tân Thủ Tướng Clement Attlee.)
Khi ông còn là phó tổng thống,
ông Roosevelt không kính nể ông, coi ông là một nhân vật của “bộ máy” chính quyền
địa phương, và không chia sẻ gì với ông về những việc đại sự cả. Thành ra trước
khi đi dự hội nghị Postdam, ông Truman học bài, học ngày đêm cho cuộc thi lớn
nhất đời ông. Ông viết trong cuốn nhật ký mà ông có lúc giữ trong suốt thời làm
tổng thống “Đã trải qua một số ngày hết sức vội vàng. Mỏi mắt quá. Đọc quá nhiều
những ‘fine print.’ Hầu như mỗi memo có một cái nguy cơ trong đó và cần phải đọc
ít nhất cả ngàn cái cũng như từng đó bản phúc trình. Hầu hết vào ban đêm.” Hội
nghị làm ai cũng thấm mệt, nhưng ông Truman trở về Washington với sự tán thưởng
của các vị quốc trưởng khác. Thủ Tướng Churchill được nghe nói: “Ông ta có vẻ
là một người với khả năng và sự bặt thiệp đặc biệt, với một cái nhìn đúng như
là liên hệ Anh Mỹ đã phát triển.”
Tuần trước, ngay sau kỷ niệm 72
năm Hội Nghị Potsdam, ông Donald J. Trump, tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ, tham dự
Hội Nghị Thượng Đỉnh G-20 ở Hamburg cũng tại Đức. Nhưng sau sáu tháng tại chức,
ông Trump hành động và trông như một kẻ ngượng ngùng, không có bao nhiêu hiểu
biết, đứng ngoài, một người khách đến ăn cơm mà không ai muốn nói chuyện với.
Tổng Thống Trump thù ghét báo
chí. Kể từ khi nhậm chức, ông chỉ có 11 cuộc họp báo -10 cuộc là chung với các
lãnh tụ khác. Trong lần họp báo duy nhất một mình hôm 16 Tháng Hai, ông nói lan
man, ông ra ngoài đề, ông tự khoe mình, như ông vẫn thường nói, về điều mà ông
coi là sự vĩ đại chứng minh được và một chuỗi thành công của ông. Ông nói: “Chúng
ta đã có những tiến bộ khó tin. Tôi không nghĩ có một tổng thống đắc cử mà,
trong một thời gian ngắn, đã làm điều mà chúng tôi đã làm.” Ông thường xuyên miệt
thị báo chí là “tin dỏm” hay tờ New York Times đang mất khách, hay đài CNN đang
thất bại…
Trong chỗ riêng tư, ông Truman thỉnh
thoảng cũng nói đến “báo chí phá hoại,” hay “báo chí phản bội và phá hoại” hay
“giết uy tín người khác.” Ông cũng có một số nhà báo ông không ưa như ông
Westbrook Pegler, vốn đã từng gọi ông là “anh bán quần áo biết gì.” Hay tờ
Chicago Tribube, vốn đã gọi ông là “một tên ngu đần” hay “ăn cắp phiếu, bảo vệ
tham nhũng, tha bổng cho gangster.” Nhưng ông không bao giờ quên vai trò của
báo chí.
Trong suốt bảy năm tại chức, ông
Truman, quả có lúc có một tiệm bán quần áo, đã chứng tỏ một khả năng hiếm có.
Chỉ vài tuần sau khi ông nhậm chức, vào ngày sinh nhật 61 tuổi của ông, ông nhận
sự đầu hàng của Đức, nhưng trong khi đó cuộc chiến với Nhật Bản tiếp tục. Ông
đã chấp thuận việc sử dụng bom nguyên tử để chấm dứt cuộc chiến mà nếu tiếp tục
sẽ còn đổ biết bao xương máu cả người Mỹ lẫn người Nhật vì Nhật sẽ không chịu đầu
hàng. Đã có những chỉ trích và tranh luận về việc sử dụng bom nguyên tử cho đến
ngày nay nhưng nó đã là một trong những lý do chính khiến Nhật đầu hàng.
Ông cũng là người đã hướng nền
ngoại giao Hoa Kỳ sang một chính sách quốc tế, từ bỏ chính sách cô lập. Ông đã
thuyết phục được Quốc Hội thông qua $13 tỷ cho Kế hoạch Marshall để tái thiết
Âu Châu. Ông từ chối kế hoạch trừng phạt Đức và giúp hình thành Tây Đức. Ông đã
giúp xây dựng nên Liên Hiệp Quốc. Năm 1947, ông công bố Chủ thuyết Truman, bao
vây chế độ Cộng Sản. Chính ông đã trông nom tổ chức cầu không vận Berlin năm
1948 và là cha đẻ của Liên Minh Bắc Đại Tây Dương NATO năm 1949, nhưng không
làm sao cứu được cho Trung Hoa Dân Quốc không rơi vào tay Cộng Sản. Khi Cộng Sản
Bắc Hàn xâm lăng Nam Hàn, ông gửi binh sĩ Hoa Kỳ và sau đó nhờ Liên Xô tẩy
chay, ông dành được thỏa thuận của Liên Hiệp Quốc cho Chiến Tranh Cao Ly. Cuộc
chiến chỉ kết thúc với một lệnh ngưng bắn sau khi ông mãn nhiệm.
Trong những vấn đề quốc nội, nhiều
đạo luật của ông đã bị thất bại vì Quốc Hội bảo thủ, nhưng ông đã thành công
trong việc hướng dẫn Hoa Kỳ qua những thách thức kinh tế hậu chiến. Là một người
ở một tiểu bang ráp ranh với miền Nam, ông đã coi dân quyền là một ưu tiên đạo
đức, và năm 1948 đưa ra một dự luật cải tổ dân quyền đầu tiên. Ông cũng đã ra
những sắc lệnh cấm kỳ thị chủng tộc trong quân đội và trong các cơ quan liên
bang.
Điều còn đáng chú ý hơn nữa là
trong tiểu sử, ông tự hào nhận mình là “nhà nông, bán quần áo.”
Ở cuộc họp báo cuối cùng của ông
vào ngày 15 Tháng Giêng, 1953, ông nói: “Loại họp báo như thế này, nơi mà nhà
báo có thể hỏi bất cứ câu hỏi nào mà họ nghĩ tới – trực tiếp cho Tổng thống Hoa
Kỳ – chứng tỏ nền dân chủ của chúng ta hùng mạnh và sung sức đến mức nào. Không
có một quốc gia nào trên thế giới mà quốc trưởng phải chịu những câu hỏi không
giới hạn như vậy. Tôi cũng biết từ kinh nghiệm bản thân, không phải dễ mà đứng ở
đây và cố trả lời, không chuẩn bị, đủ loại câu hỏi không được báo trước. Có lẽ
các vị tổng thống về sau sẽ có cách để cải thiện và bảo đảm cho thủ tục này.
Tôi hy vọng họ sẽ không bao giờ cắt đứt mối dây liên hệ trực tiếp giữa họ và
nhân dân.”
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét