Tháng 12 năm 2012, tôi nhận được
một email rất lạ. Người gửi cũng từ một người không quen, ở mãi tận Nam Phi. Lá
thư điện tử đó từ Tổng giám mục Desmond Tutu. Ông là nhà lãnh đạo tôn giáo lừng
danh chống lại chủ nghĩa kỳ thị và đấu tranh cho giá trị con người, đã từng nhận
giải Nobel Hòa Bình vào năm 1984, giải Gandhi Hòa Bình năm 2007, và nhiều giải
thưởng cao quý khác.
Lá thư của ngài Desmond Tutu kể với
tôi rằng, ở đâu đó tại nước Trung Quốc cộng sản, có một người bạn của ông tên
là Lưu Hiểu Ba đang bị cầm tù và chịu đựng bệnh tật như một cách trả thù của
chính quyền. Đơn giản chỉ vì ông Lưu lên tiếng tranh đấu cho tự do và quyền làm
người. Ngài Desmond Tutu muốn tôi cùng góp một chữ ký vào thư kêu gọi Nhà cầm
quyền cộng sản Trung Quốc hãy trả tự do cho ông Lưu Hiểu Ba, trong một chiến dịch
của thế giới văn minh cùng gõ vào cánh cửa độc tài, mà đứng ở hàng đầu là hơn
130 khôi nguyên của các giải Nobel qua nhiều thời kỳ.
Vào thời điểm khi tôi nhận được
lá thư này, giáo sư Lưu Hiểu Ba đã được vinh danh với giải Nobel Hòa Bình vào
năm 2010, nhưng Bắc Kinh đã từ chối không cho ông sang Thụy Điển nhận giải, thậm
chí đã phản ứng gay gắt, gọi việc xướng danh ông Lưu Hiểu Ba là một sỉ nhục của giải Nobel.
Có đến 19 nước trong số 65 quốc gia được Viện Hàn Lâm Thụy Điển mời đến
dự lễ trao giải, đã phải lên tiếng sẽ vắng mặt vì bị áp lực của Trung Quốc,
trong đó có Cuba, Venezuela, Nga… và dĩ
nhiên, có cả Việt Nam.
Ông Lưu Hiểu Ba bị kêu án 11 năm
tù giam, với luận điệu “âm mưu lật đổ chính quyền”, loại tội danh mà một số quốc
gia độc tài vẫn luôn sử dụng trong niềm hoang mang thầm kín về chuyện “lật” và
“đổ” của chế độ mình, bất chấp sức cai trị luôn được ngày đêm củng cố bằng công
an, quân đội và các loại luật lệ áp đặt thô bỉ.
Khi đó, ông Lưu vẫn là một người
khỏe mạnh.
Trước khi bị giam cầm, ông Lưu Hiểu
Ba, trong vai trò là một giáo sư vẫn dùng tiếng nói của mình để thúc giục sự đổi
thay và cảnh tỉnh về sự dã man của chế độ trong cơn bấn loạn quyền lực. Những
chi tiết ghi lại trong thời điểm 1989 ở Thiên An Môn cho biết, ông Lưu Hiểu Ba
đã tìm mọi cách để thương thuyết, giải cứu hàng trăm sinh viên không bị thiệt mạng
dưới lưỡi lê và xích xe tăng của quân đội. Giống như nhiều nhà bất đồng chính
kiến khác ở Trung Quốc, thông tin và tên của ông Lưu bị kiểm duyệt trên báo
chí, trên internet nhằm tẩy não người dân quên lãng ông. Chính vì vậy, giải
Nobel Hòa Bình như sự tỉnh thức về lương tâm và nhân cách của một người Trung
Quốc đã khiến cả thế giới dõi theo và xao động.
Đây không phải là lần đầu tiên
trong đời mình, tôi để xuống một chữ ký vô danh của mình trong một thế giới quá
rộng lớn và mỗi ngày hiện thực càng thêm tàn bạo. Đó là lần đầu tiên, tôi ký
trong sự bồi hồi về một con người không quen biết, và cầu mong ông được tự do,
như chính ông hy vọng trong câu nói quen thuộc “Hy vọng rằng tôi sẽ là nạn nhân
cuối cùng trong cách đối xử có chiều dài kỷ lục của chính quyền Trung Quốc luôn
xem việc lên tiếng như là tội phạm”.
Và rồi, hôm nay, tôi hay tin ông
Lưu Hiểu Ba qua đời ở tuổi 61. Hàng triệu người ở đại lục hay Hồng Kông, Đài
Loan chắc sẽ rất buồn. Hàng triệu người khác không cùng màu da tiếng nói với
ông Lưu chắc cũng vậy, cũng sẽ thất vọng, trong đó, không thể thiếu những người
đã từng góp một chữ ký vào bức thư mà ngài Desmond Tutu khởi xướng.
Tôi bỗng chợt nhớ đến những lá
thư ngỏ, những cuộc vận động không ngừng nghỉ trong đất nước mình để đối phó với
các sự kiện mỗi ngày. Thật không đếm hết những lần tôi và bạn bè mình đã ký vì
Hoàng Sa, Trường Sa hay Formosa… Lúc thì cho một phụ nữ đơn thân bị cầm tù khắc
nghiệt, khi thì môi trường bị tàn hại thương tâm, hoặc vì những nạn nhân chết
quá bất thường trong đồn công an. Đã từng có lúc, tôi thấy một người bạn tức giận
kêu lên, mệt mỏi rằng “liệu các thư này, chữ ký này có lay động được gì, có ích
lợi gì không?” .
Cũng như vậy, Bắc Kinh có lay động
gì qua những chữ ký của thế giới đòi tự do cho ông Lưu Hiểu Ba, hay chỉ là
thoáng cau mày rồi kiên quyết giam cầm ông cho đến chết?
Trong diễn từ của mình được đọc tại
lễ trao giải của Viện Hàn Lâm Thụy Điển, ông Lưu Hiểu Ba có viết rằng “Tôi
không có kẻ thù, và cũng không có lòng căm thù”. Tuyên bố cuối cùng của ông trước
thế giới, xác lập một tư thế chọn lựa minh tuệ, rằng cái ác hay chế độ độc tài
không phải là thứ để đối đầu mà là một hiện trạng tăm tối cần được kiến giải,
khai mở cho tiến trình đổi thay.
“Tôi không thấy mình có tội gì
khi sử dụng quyền tự do phát biểu hiến định, để làm tròn trách vị công dân của
mình. Dẫu có bị kết tội vì đã làm thế, tôi cũng chẳng than phiền điều gì cả”,
diễn từ của ông kết thúc như vậy. Thật dễ hiểu. Phần của kẻ ác, của chế độ độc
tài sẽ làm hết tất cả những gì thuộc về cực của chúng. Và phần của những con
người yêu sự thật, yêu tự do và lẽ phải cũng cần làm hết sức những gì mà mình
có thể. Đó là một tiến trình mà lịch sử văn minh nhân loại đã chứng minh rằng
Chúa Jesus, Đức Phật, Gandhi hay Martin Luther King… đã đi qua và dựng nên chân
lý.
Như tôi đã từng để xuống một chữ
ký cho ông Lưu Hiểu Ba, và tôi cũng sẽ không ngần ngại ký một lần nữa, cho ai
đó, vì lẽ phải và sự thật, dẫu có lúc tức giận hay thất vọng. Vì chữ ký nhỏ,
như một cam kết rằng tôi hay chúng ta chọn đứng về phía loài người yêu sự công
chính.
“Dẫu có bị kết tội vì đã làm thế,
tôi cũng chẳng than phiền điều gì cả”, tôi đọc lại một lần nữa lời kết của ông
Lưu Hiểu Ba. Tôi nhớ đến nụ cười hiền lành của ông, như nghĩ đến nụ cười của
loài người nhẫn nại trong niềm hy vọng bất diệt.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét