Cảnh đóng lại một
cuộc chiến thời Cộng hòa II: quân Ba Lan dưới thánh giá bằng cây bạch dương-Hình ảnh JANEK
SKARZYNSKI
Sang thăm Warsaw hôm 06/07/2017
trước khi đến Hamburg dự G20, Tổng thống Donald Trump đã thổi lên tinh thần dân
tộc Ba Lan, ca ngợi truyền thống chống ngoại xâm của họ.
Ông nói đến sức bền bỉ của Ba Lan
vượt qua sự chiếm đóng tàn khốc của Đức trong Thế Chiến 2 nhưng cũng nhắc đến
"Phép màu bên sông Vistula".
Đây là chiến thắng của Cộng hòa
Ba Lan đuổi được Hồng quân của Nga Xô Viết (đến 1922 được đổi tên thành Liên
Xô) tiến chiếm thủ đô năm 1920.
1. Cuộc chiến Ba Lan - Nga Xô Viết
(1919-1921)
Thắng lợi của trận Warsaw
(8/1920) là bước ngoặt trong cuộc chiến nổ ra năm 1919 sau khi Quốc trưởng Ba
Lan Jozef Pilsudski ký hòa ước với phái dân tộc Ukraine của Symon Petlyura để
chống lại nước Nga Xô Viết, theo Britannica.
Liên quân Ba Lan - Ukraine đã thắng
nhiều trận và chiếm Kiev vào tháng 5/1920.
Vladimir Lenin ra lệnh cho Hồng
quân phản công và họ đã đẩy lui quân Ba Lan ngược về phía Tây.
Sau đó, Nguyên soái Mikhail
Tukhachevsky tập trung số quân 140 nghìn đánh vào Ba Lan từ tháng 7.
Nguyên soái Hồng
quân Mikhail Tukhachevsky duyệt hàng quân trước khi tấn công Ba Lan năm 1920-Bản quyền hình ảnh TASS/Getty
Images
Giao tranh diễn ra trên ba mặt
trận, từ biên giới Ba Lan - Ukraine đến tận vùng Đông Phổ thuộc Đức ở phía
Tây Bắc Warsaw.
Tukhachevsky cho ba quân đoàn (3,
15 và 16) chia làm hai hướng nhắm đánh thủ đô Ba Lan.
Còn Quân đoàn 4 và một sư đoàn kỵ
binh nhận nhiệm vụ vòng lên hướng Torun ở phía Tây Bắc để bao vây và đánh ngược
trở lại phía Nam của Warsaw, theo một bài trên Newsweek Polska hồi tháng
8/2016.
Về phía Ba Lan, chỉ riêng mặt
trận chính để bảo vệ Warsaw đã trải dài 800 km và có nhiều sông lớn nhỏ, khiến
họ không thể hoàn toàn triển khai các lữ đoàn kỵ binh 'ulani' dùng gươm và súng
trường.
Nguyên soái Pilsudski vì thế đã
dùng kỵ binh như lực lượng cơ động cao để tập hậu và truy kích Hồng quân.
Còn các tuyến phòng thủ chính do
bộ binh và dân quân Ba Lan đảm trách.
Quân Ba Lan ít hơn (123 nghìn)
nhưng có lợi thế nắm rõ địa hình và biết cách di chuyển tùy tình hình đã bắt đầu
bằng các trận phòng thủ nhỏ, chuyển sang phản kích và dần dần mở các chiến dịch
lớn.
Đến giữa tháng 8/1920, sau khi
chia cắt các cánh quân địch, Ba Lan tổng phản công và đẩy quân Nga về bên kia
biên giới.
Hòa ước Riga tháng 3/1921 đã xác
định lại đường biên với việc Ba Lan chấp nhận để phần lớn lãnh thổ Ukraine
thành nước Cộng hòa Xô viết Ukraine nhưng nhận được nhiều vùng thuộc Belarus
và phía Nam Ukraine.
2. Cộng hòa và Cộng sản
Trận Warsaw nằm trong bối cảnh
chung là tranh chấp lãnh thổ và vùng ảnh hưởng giữa nước Ba Lan tư sản thành
lập năm 1918, và nước Nga Xô Viết ra đời sau Cách mạng tháng Mười 1917.
Ý tưởng đánh Ba Lan còn có lý do
ý thức hệ.
Lenin muốn chiếm Warsaw để mở
"con đường cách mạng" ngắn nhất sang Đức, đem màu cờ đỏ Bolshevik
sang toàn Tây Âu.
Người chặn chiến lược "xuất
khẩu cách mạng" của Nga không phải là ai khác mà chính là Pilsudski, cựu đảng
viên đảng Xã hội Chủ nghĩa Nga và đồng chí của anh trai Lenin, Aleksander
Ulyanov.
Nguyên soái Ba Lan
Jozef Pilsudski trong ảnh chụp năm 1919: chiến thuật phản công của ông năm
1920 đã đánh bại Hồng quân Nga Xô Viết-Bản quyền hình ảnh East
News/Getty Images
Khi còn là sinh viên Đại học
Kharkov và là thần dân của Nga, Jozef Pilsudski bị bắt trong vụ ám sát hụt Nga
hoàng năm 1887.
Người chủ mưu Aleksander Ulyanov
bị xử tử còn Pilsudski bị đày đi Siberia và sau về nước đấu tranh giành độc
lập cho Ba Lan.
Sự nghiệp của Pilsudski cũng phản
án một quy luật: từ một người theo Chủ nghĩa Xã hội, ông vì quyền lợi dân
tộc đã trở thành anh hùng của nền cộng hòa Ba Lan và chống lại Moscow.
Người Ba Lan cũng dựa vào chủ
nghĩa dân tộc và Công giáo La Mã như một hỗ trợ tinh thần chống lại nước Nga
Xô Viết.
Giáo hội Công giáo Ba Lan cổ vũ
cho thanh niên trai tráng ra trận và đề cao các trận chiến nhỏ để lên tinh thần
cho quân đội.
Chiến thắng đẩy các binh đoàn của
Nga ra khỏi ngoại ô Warsaw được cho là nhờ ơn của Đức Mẹ Maria nghe lời cầu
nguyện từ người Ba Lan.
Người Ba Lan còn lên tinh thần bằng
cách nhắc lại trận Vienna năm 1683 khi Vua Jan Sobieski đã thắng quân Hồi giáo
và "cứu châu Âu Cơ đốc giáo" khỏi hiểm họa sinh tồn.
3. Súng máy, kỵ binh và điện đài
Bỏ sang một bên tuyên truyền và
huyền thoại, Trận Warsaw 1920 được coi là trận đánh cuối cùng của Thế Chiến 1
(1914-1918) ở châu Âu, với cách tác chiến, vũ khí và trang bị của buổi giao thời
giữa hai Thế Chiến.
Đây cũng là cuộc chiến bị quốc tế
hóa từ ngày đầu.
Đồng minh Hungary đã hỗ trợ cho
Ba Lan nhiều súng máy, đạn dược và cả bếp quân dụng.
Nhưng vì Tiệp Khắc và Áo bao vây
Ba Lan, Hungary phải gửi viện trợ quân sự bằng đường xe lửa vòng vèo qua lãnh
thổ Romania.
Pháp cử Tướng Maxime Weygand đến
trợ giúp Ba Lan cùng một phái bộ quân sự.
Charles de Gaulle, sau là Tổng tư
lệnh lực lượng kháng chiến Pháp chống Đức, được biệt phái vào quân đội Ba
Lan với hàm thiếu tá và nhận huân chương cho thành tích trong trận bên sông
Zbrucz.
Các cấp chỉ huy cao
nhất của Hồng quân: từ trái sang: Yan Gamarnik, Mikhail Tukhachevsky, Kliment
Voroshilov, Alexander Yegorov và Genrikh Yagoda trước Lăng Lenin năm 1935. Họ
có cơ hội cùng Phát xít Đức tiêu diệt Ba Lan năm 1939-Bản quyền hình ảnh TASS/Getty
Images
Nhưng trong chiến tranh Ba Lan -
Nga năm đó, súng máy và súng trường cùng kiếm dài, và ngựa vẫn được dùng nhiều.
Máy bay nhẹ đã được sử dụng để thả
bom tay và ném lựu đạn xuống bộ binh nhưng chưa có các phi đội hiện đại như
thời Thế Chiến 2.
Cho đến năm 1920, trên toàn châu
Âu, cách thiết kế xe tăng và thiết giáp vẫn còn rất sơ khai.
Chỉ có một công nghệ mới là
điện đài và radio đã có mặt trong cuộc chiến này.
Nhưng điều thú vị là nhờ kỵ binh
chiếm được máy phát sóng của Nga, phía Ba Lan đã giành thế thượng phong về
thông tin.
Ngày 15/08, sư đoàn kỵ binh 203 của
Ba Lan đã bất ngờ tấn công bộ chỉ huy Quân đoàn 4 của Hồng quân đóng ở
Ciechanow, thu được nhiều đạn dược, và làm chủ máy phát phát sóng cùng nhiều
tài liệu quân sự.
Kể từ đó, phía Ba Lan nắm được
các lệnh chuyển quân từ Minsk của quân Nga và sau đó còn dùng làn sóng này để
đọc Kinh Thánh như một cách tuyên truyền làm suy yếu tinh thần quân địch.
Các tài liệu giải mật năm 2005
còn cho biết một chuyên gia điện đài Ba Lan, trung uý Jan Kowalewski ngay từ
tháng 9/1919 đã phá được mật mã quân sự của Nga.
Mất liên lạc hoàn toàn với Bộ tư
lệnh, cả Quân đoàn 4 của Nga vẫn tiếp tục hành quân về phía Tây Bắc mà không
rút về vì không biết cánh quân chính đã bị đánh tan gần Warsaw.
Khi bị bao vây và chặn hậu, chừng
30 nghìn quân Nga "lạc đường" đã phải chạy sang lãnh thổ Đức ở Đông
Phổ, bị bắt rồi giải giáp toàn bộ.
Riêng trong Trận Warsaw, quân Ba
Lan chỉ tổn thất chừng 4,5 nghìn quân còn Hồng quân bị giết và bị thương nặng
khoảng 25 nghìn, và 60 nghìn bị bắt làm tù binh.
4. Bài học lịch sử
Sau khi giành lại chủ quyền toàn
bộ từ Liên Xô năm 1989, nền Cộng hòa Ba Lan phục hồi lại nhiều trang lịch sử,
ca ngợi chiến tích của Cuộc chiến năm 1920.
Năm 2011 Ba Lan bỏ ra gần 10
triệu USD làm bộ phim Trận Warsaw 1920 của đạo diễn Jerzy Hoffman.
Trong phim, chàng kỵ binh Ba Lan
(Borys Szyc đóng), vì tiếng gọi của tổ quốc và niềm tin Công giáo, đã gia nhập
quân ngũ đúng vào ngày cưới với giọng ca nữ của làng quê (trong vai của Natasza
Urbanska).
Bộ phim mô tả cuộc chiến khi ấy
là để bảo vệ Ukraine trước sự bành trướng của quân Nga.
Về mặt nghệ thuật, phim này bị
phê phán là nặng tính tuyên truyền, diễn xuất yếu.
Nhưng thông điệp chính của phim
cũng phù hợp với những gì phái hữu hiện nay tại Warsaw đề cao: Ba Lan đứng về
phía văn minh Phương Tây và có trách nhiệm đạo đức bảo vệ Ukraine trước nước
Nga của ông Putin.
Tổng thống Donald Trump khi đến
Ba Lan cũng nói về "sứ mệnh" này.
Ba Lan ngày này là
nước ít ỏi trong Nato ở châu Âu chi tiêu cho quốc phòng ngang với Anh, tính
theo phần trăm GDP - Bản quyền hình ảnh Gallo
Images
Nhưng như sử gia Anh, ông Norman
Davies viết trong cuốn "Đại Bàng Trắng và Cờ Đỏ" (White Eagle, Red
Star: The Polish-Soviet War 1919-20), cuộc chiến năm 1920 chỉ đem lại thắng lợi
tạm thời cho Ba Lan.
Thất bại năm đó chỉ khiến Nga quyết
tâm hơn trong nỗ lực tiêu diệt ý chí dân tộc Ba Lan và thu hẹp lại lãnh thổ
nước này sau năm 1945.
Năm 1939, Liên Xô và Đức Quốc xã
hợp đồng tác chiến tấn công Ba Lan từ hai phía và chia sẻ mục tiêu chung là
tiêu diệt sinh lực dân tộc Ba Lan bằng cách tàn sát có kế hoạch giới sỹ quan,
giáo sư đại học, tu sỹ Công giáo.
Sau Thế Chiến 2, cứ năm người Ba
Lan thì một bị giết, và lãnh thổ Ba Lan bị thu hẹp còn 2/3 so với năm 1939.
Vị trí địa lý và tinh thần dân
tộc đặt Ba Lan thường xuyên ở thế phải chống lại các đại cường bao vây xung
quanh.
Lich sử cũng hay lặp lại và các
nước nhỏ hơn thường bị tàn phá nhiều hơn.
Dù châu Âu đang hòa bình, không
khí chính trị lại phảng phất những dấu hiệu của thời kỳ dự báo chuyển biến địa
chính trị to lớn.
Cuộc chiến 97 năm về trước vẫn
có thể là một bài học cho người Ba Lan và châu Âu.





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét