Tổng thống Mỹ Bill Clinton. Ảnh: The Federalist.
Đã hơn 20 năm kể từ khi tôi
có thần tượng chính trị đầu tiên trong đời mình – Tổng thống Hoa Kỳ Bill
Clinton. Bill được nhớ tới như một vị nguyên thủ sở hữu mái tóc bạch
kim quyến rũ và thần thái khó cưỡng của một luật gia. Ông là một trí
thức chuẩn mực. Bill, trong con mắt tôi lúc đó, là “thầy giáo” của địa
cầu, người chuyên đi thuyết giảng về hòa bình, hợp tác và thịnh vượng.
Khi con mắt lãng mạn đó của tôi chết dần
theo năm tháng, tôi không còn nhìn Bill Clinton và những thành tựu của
ông như cũ. Nhân sinh nhật 71 tuổi của ông, có lẽ đây là lúc thích hợp
để chúng ta “xét lại” Bill Clinton trên phương diện sự thật lịch sử và
chính sách pháp luật.
Tuổi thơ: Đặc quyền, năng lực và bất hạnh
Nếu chúng ta chỉ xét Bill Clinton (tên
thật là William Jefferson Clinton) trên phương diện là một người đàn ông
da trắng, không khó để thấy ông luôn được gia đình và xã hội tận tình
quan tâm.
Sinh năm 1946, Bill Clinton được ông bà
ngoại Eldridge and Edith Cassidy nuôi dưỡng trong một thời gian dài. Cả
hai đều là giới da trắng trung lưu “Thời đại Vàng” của Hoa Kỳ. Họ cực kỳ
chú trọng và dành cho Bill những thứ tốt nhất, từ môi trường sống, nền
tảng giáo dục – kiến thức và đặc biệt là bài học về nỗ lực cá nhân. Bill
ca ngợi ông bà Cassidy là những người có tác động lớn đến niềm yêu
thích học tập từ nhỏ của ông. “Nhờ được họ hướng dẫn, tôi bắt đầu tập
đọc sách khi mới ba tuổi” – ông kể lại.
Khi trở thành thiếu niên, Bill theo học
tại trường trung học Hot Springs, một ngôi trường chỉ dành cho người da
trắng theo chính sách “Tách biệt nhưng bình đẳng” (Segregation but
equal) khét tiếng thời bấy giờ.
Nét điển trai, trí thông minh và tính
cách hòa đồng đã giúp chàng trai trẻ Bill trở thành một học sinh ưu tú.
Đặc biệt, ông còn là ngôi sao saxophone của dàn nhạc trường Hot Springs.
Không chỉ vậy, hiệu trưởng của Bill
Clinton lúc đó – Johnnie Mae Mackey – đang chú trọng đến việc xây dựng
trường Hot Springs trở thành lò đào tạo ra các nhân viên công quyền.
Điều này khiến bà không thể không để ý đến cậu học trò Bill đầy tiềm
năng, có thiên hướng yêu thích hoạt động chính trị và là một con chiên
ngoan đạo (dù gia đình không ai theo đạo).
Năm 1963, ông được chọn đại diện trường
tham gia Boys State, một chương trình được thiết kế để tăng cường ý thức
của giới trẻ đối với mô hình, dịch vụ và hoạt động của chính phủ. Ông
tiếp tục được bầu chọn là đại diện của tiểu bang Arkansas để tham gia
chương trình toàn quốc – Boys Nation. Nhờ đó, chàng trai trẻ Clinton
nhận được thư mời gặp mặt Tổng thống John F. Kennedy tại Nhà Trắng. Bức
ảnh Clinton trẻ trung bắt tay với Tổng thống Kennedy nhanh chóng trở
thành biểu tượng cho thế hệ măng non đầy hứa hẹn của nước Mỹ.
Tuy nhiên, sẽ là phiến diện nếu đánh giá
Bill Clinton chỉ trên phương diện là một người đàn ông da trắng mà quên
đi các khía cạnh khác và những khó khăn mà ông gặp phải.
Cha ruột của Bill Clinton, ông William
Jefferson Blythe, mất vì một tai nạn giao thông chỉ ba tháng trước khi
ông được sinh ra. Để chu cấp cho gia đình, mẹ của Bill, Virginia Cassidy
Blythe, phải chuyển đến New Orleans, Louisiana học về gây mê và y tá,
gửi Bill nhờ ông bà trông nom.
J. F. Kennedy có lẽ không thể ngờ được rằng, 30 năm sau cái chết của ông
(1963), cậu học trò mà ông bắt tay trong bức ảnh này sẽ trở thành chủ
nhân Nhà Trắng. Ảnh: NBC News.
Có cha dượng Roger Clinton, cuộc sống gia đình ông cũng chẳng khá hơn. Roger là một kẻ nghiện rượu và thường xuyên đánh đập mẹ và người em cùng mẹ khác cha của Bill. Bill Clinton đã chính thức thách thức và ngăn chặn được hành vi này của cha dượng bằng… vũ lực vào năm ông 14 tuổi; nhưng chúng cũng cho thấy, thời niên thiếu của Bill không chỉ có đặc quyền và thành công. Bằng cách nào đó, ông đã vươn lên bất chấp tuổi thơ tan vỡ trong một gia đình không hạnh phúc.
Có cha dượng Roger Clinton, cuộc sống gia đình ông cũng chẳng khá hơn. Roger là một kẻ nghiện rượu và thường xuyên đánh đập mẹ và người em cùng mẹ khác cha của Bill. Bill Clinton đã chính thức thách thức và ngăn chặn được hành vi này của cha dượng bằng… vũ lực vào năm ông 14 tuổi; nhưng chúng cũng cho thấy, thời niên thiếu của Bill không chỉ có đặc quyền và thành công. Bằng cách nào đó, ông đã vươn lên bất chấp tuổi thơ tan vỡ trong một gia đình không hạnh phúc.
Sự nghiệp chính trị: Trốn quân dịch và dấu ấn trung lập của một nhà kỹ trị
Bill Clinton từng trốn lính vào năm 1969 bằng cách tham gia chương trình sĩ quan dự bị Reserve Officer Training Corps (ROTC)
tại Đại học Arkansas. Mặc cảm với tội lỗi này của mình, Bill nộp đơn
xin tham gia quân dịch không lâu sau đó. May mắn thay, ông lại trúng số
độc đắc khi không phải tham gia chiến tranh Việt Nam.
Tuy vậy, về năng lực học hành của Bill
Clinton, có lẽ không có quá nhiều thứ để chê. Tốt nghiệp tại trường đại
học lừng danh Georgetown, được cấp học bổng danh tiếng Rhodes của Oxford
và trở về vào năm 1970 chỉ để tiếp tục học luật tại… Yale, Bill Clinton
là đại diện tiêu biểu cho giới tinh hoa trí thức Hoa Kỳ thuộc thế hệ
mình.
Tại Yale, Bill Clinton gặp được một quý
cô tham vọng vừa tốt nghiệp từ đại học Wellesley danh tiếng tên là
Hillary Rodham, người rất hứng thú với tham vọng chính trị của Bill.
“Cặp đôi số Một” tốt nghiệp Yale năm 1973 và kết hôn hai năm sau đó.
Đến đây, có lẽ đã đủ các câu chuyện về
thành tựu cá nhân của Bill Clinton. Tìm hiểu về các chính sách thật sự
được ông đỡ đầu trong hai nhiệm kỳ (1993 – 2001) sẽ cho chúng ta thấy
nhiều điều thú vị về quan điểm chính trị của ông.
Một trong những thành công vang dội nhất
của Bill Clinton là Đạo luật Nghỉ có hưởng lương vì lý do gia đình và
sức khoẻ năm 1993 (Family and Medical Leave Act of 1993 – FMLA). Đây
cũng là một trong những lời hứa tranh cử của ông. Mặc dù Clinton là đảng
viên đảng Dân chủ, không quá khó để đạo luật này được lưỡng đảng thông
qua khi ông cân nhắc lợi ích của cả hai phía người lao động và người
tuyển dụng lao động.
Người lao động sẽ có quyền được nghỉ có
hưởng lương đến 12 tuần trong một năm vì lý do sức khỏe nghiêm trọng của
bản thân, ba mẹ, vợ chồng hoặc con cái, nghỉ trong thời kỳ thai sản
hoặc nuôi con mới sinh, kể cả trường hợp nhận nuôi. Ngược lại, người lao
động sẽ chỉ có thể yêu cầu những lợi ích này nếu làm việc tối thiểu 12
tháng với 1250 giờ (tương đương với chỉ khoảng 156 ngày làm việc tiêu
chuẩn) và quy mô của đơn vị tuyển dụng là trên 50 nhân viên trong bán
kính 75 dặm.
Theo thống kê từ năm 1991 đến năm 1997,
số lượng nhân viên sử dụng quyền lợi của FMLA trong các công ty vừa và
lớn tăng từ 37 lên 93 phần trăm. Tại thời điểm Bill rời Nhà Trắng năm
2001, có hơn 35 triệu người lao động đã sử dụng quyền này. Theo một
thống kê vào năm 2007 của Cơ quan Lao động Hoa Kỳ, trong tổng nguồn lực
lao động 141 triệu người, có hơn 90 triệu người làm việc cho các nhà
tuyển dụng cung cấp FMLA và 70 triệu người đủ tiêu chuẩn sử dụng FMLA.
Con số quy mô tuyển dụng 50 nhân viên
thật ra cũng chỉ là quy định kiến nghị mức trần cấp liên bang. Các tiểu
bang hoàn toàn có quyền quy định con số nhỏ hơn phù hợp với quy mô và
quan điểm bảo vệ quyền lợi người lao động tại địa phương. Tại Maine và
Maryland, con số này chỉ là 15. Tại Vermont, quy mô thậm chí chỉ là 10.
FMLA được Bill Clinton xây dựng và ủng
hộ gần như là một ví dụ hoàn hảo cho quan điểm trung lập giữa cánh tả và
cánh hữu, giữa giới ủng hộ quyền lực liên bang và bảo vệ quyền lực tiểu
bang.
Một ví dụ khác cũng thú vị không kém là
chính sách “Không hỏi, Không nói” (Don’t Ask Don’t Tell – DADT) liên
quan đến việc bảo vệ giới LGBT khi tham gia quân ngũ. Là một người sùng
đạo dòng Baptist, nhưng đồng thời cũng là một nhân vật xuất chúng của
chủ nghĩa tự do, không quá khó khăn để Clinton thực hiện thành công
chính sách sáng tạo này.
Theo DADT, các sĩ quan quân đội trong
quá trình tuyển chọn sẽ không được phép điều tra thân thế, định hướng
tính dục hay phân biệt đối xử đối với những cá nhân đồng tính không công khai
muốn tham gia phục vụ quân đội, “nhằm tạo ra bước mở đầu cho chính sách
bảo vệ người đồng tính mong muốn phục vụ quốc gia trong màu áo quân
nhân”.
Mặt khác, chính sách này cũng đồng thời
hạn chế các cá nhân đã tham gia quân đội muốn công khai hay thực hiện
hành vi đồng tính luyến ái. Điều này được lý giải là nhằm duy trì “tiêu
chuẩn về tinh thần, trật tự và kỷ luật, mối gắn kết quân ngũ, v.v. – bản
chất thiết yếu của năng lực quân sự quốc gia”.
Tuy không hẳn là một chính sách được mọi
phía hoan nghênh, ông giải quyết được hai vấn đề cơ bản: quyền được
tham gia quân đội của người đồng tính và lo ngại từ phía quân đội. Quân
đội khi đó cho rằng việc người đồng tính tham gia sẽ gây rối loạn quân
ngũ, làm phức tạp hoá mối quan hệ giữa các quân nhân, hay có thể khiến
cho quá trình điều động và bổ nhiệm quân nhân không còn được khách quan.
Chính sách này được Tổng thống Barack
Obama kế thừa và tiến thêm một bước vào năm 2011, khi ông cho phép mọi
cá nhân đồng tính, bất kể công khai hay không công khai, được phép tham
gia quân đội. Thành quả này có thể bị “thất truyền” sau khi Tổng thống
Donald Trump tuyên bố sẽ cấm người đồng tính tham gia quân đội hồi tháng
7 vừa qua.
Một trong những ví dụ rõ nhất cho quan
điểm trung lập và xem trọng hiệu quả hơn chính nghĩa, công lý của Bill
Clinton là thái độ của ông đối với các chính sách an sinh xã hội. Khác
với các chính trị gia Dân chủ thường dùng chính sách an sinh xã hội để
ác quỷ hoá hình ảnh của các chính trị gia Cộng hòa (mà họ vẫn sử dụng
đến tận ngày nay), Bill nhìn thấy sai lầm trong những vấn đề cốt lõi của
chính sách phúc lợi thời ông.
Từ năm 1978, sau khi trở thành Thống đốc
tiểu bang Arkansas, Clinton đã tham gia vào các chính sách của chính
quyền Carter để khuyến khích người trong độ tuổi lao động tìm việc và
ngừng hưởng trợ cấp. Sau đó, ông cũng làm việc với Tổng thống Reagan của
đảng Cộng hoà để sửa đổi cơ bản Đạo Luật Hỗ trợ Gia đình 1988 (Family
Support Act – FSA). Ông có vẻ hiểu và mong muốn giải quyết vấn đề hơn là
dựa vào lời hứa phúc lợi để kiếm phiếu bầu.
Năm 1996, Bill Clinton chính thức đề
xuất giới hạn phúc lợi FSA chỉ còn trong năm năm. Ông cũng cắt mạnh chi
tiêu cho các chương trình tem phiếu thức ăn, dù phải đối mặt với phong
trào đấu tranh dữ dội của những nhà hoạt động vì người nghèo.
Bill không phải là người hoàn hảo. Sự
ngờ nghệch thiếu muối của ông trong vụ lùm xùm ngoại tình với thực tập
sinh Monica Lewinsky có lẽ khiến nhiều người quên đi cuộc bùng nổ kinh
tế những năm 90, tỷ lệ tội phạm giảm, tỷ lệ nghèo đói giảm, và nguồn lực
lao động được tăng cường của Hoa Kỳ mà Bill Clinton là một thành tố
quan trọng trong đó.
Tôi vẫn cho rằng Bill Clinton là một tổng thống thành công và đáng kính trọng về mặt lập pháp và hiệu quả chính sách.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét