Như chúng ta đã biết, Cộng hòa La Mã đã tồn tại ổn định hàng trăm năm
nhờ vào mô hình chính quyền hỗn hợp. Mô hình ấy trụ vững bởi thế cân
bằng quyền lực kiềng ba chân của ba bộ phận là quan Chấp chính, Viện
Nguyên lão, và Hội đồng các Century (về sau là Hội đồng Bộ lạc).
Tuy nhiên, càng về gần mốc Công nguyên, thế cân bằng ấy càng bị phá
vỡ. Cộng hòa La Mã với gần 500 năm tồn tại đã âm ỉ một loạt các vấn đề
như bất bình đẳng xã hội, chính quyền tham nhũng, chính trị hóa quân
đội, và suy giảm các đức hạnh truyền thống. Chính những điều ấy đã khiến
cho nền tảng của nền cộng hòa bị xói mòn và cuối cùng sụp đổ dưới bàn
tay của những kẻ chuyên chế tiếm quyền.
Bất bình đẳng xã hội và những cải cách làm xói mòn nền Cộng hòa
Ngoại trừ tầng lớp nô lệ, xã hội La Mã phân chia thành hai đẳng cấp là giới bình dân và giới quý tộc.
Trong những năm đầu của nền cộng hòa, giới bình dân không được hưởng
các quyền lợi công dân như những người quý tộc. Họ không được tham gia
vào Hội đồng các Century, không được chia ruộng đất công, và cũng không
được xét xử tại tòa. Trong khi đó, giới này lại là nguồn nhân lực chính
tham gia vào việc sản xuất cho nền kinh tế, và cũng chiếm phần đông
trong lực lượng quân sự quốc gia.
Trải qua cuộc xung đột giai cấp kéo dài gần hai thế kỷ (từ năm 494
TCN đến năm 287 TCN), cuối cùng giới bình dân cũng giành lấy được những
quyền lợi pháp lý tương tự như giới quý tộc. Giờ đây, những người bình
dân cùng với quý tộc đã có thể cùng tham gia vào chính trị thông qua Hội
đồng Bộ lạc (Comitia Tributa) – cơ quan lập pháp chính của Cộng hòa La
Mã.
Tuy nhiên, thực chất bất bình đẳng vẫn còn đó, khi phần lớn tài sản
và địa vị chính trị trước nay chưa bao giờ tuột khỏi tay giới quý tộc.
Khoảng cách bất bình đẳng lại càng bị khoét sâu thêm khi nền cộng hòa
này trở thành bá chủ trong khu vực Địa Trung Hải. Chiến thắng đã mang
về cho La Mã một lượng lớn của cải và nô lệ, khiến cho một bộ phận quý
tộc trở nên ngày một giàu có. Song song với đó, hàng hóa rẻ từ nước
ngoài tràn vào La Mã khiến cho các tiểu địa chủ bị phá sản. Dòng người
thất nghiệp ở nông thôn đổ ra thành phố lớn, tuy nhiên lượng công việc
lại không đủ để đáp ứng. Hàng loạt vấn đề diễn tiến đã khiến cho mầm
bệnh bất ổn xã hội ngày càng âm ỉ.
Rồi cũng đến lúc cơn bạo bệnh bùng phát. Nó không chỉ nổ ra trong
giới bình dân, mà còn lây lan tới cả thượng tầng chính trị La Mã. Nó
chia rẽ giới tinh hoa La Mã thành hai nhóm: nhóm bảo thủ (đại diện là
Viện Nguyên lão) không chấp nhận bất cứ cải cách nào thách thức quyền
lợi của họ, và nhóm cải cách (đại diện là các quan Hộ dân – Tribus) theo
đuổi các chính sách phục vụ cho đa số người dân.
Tượng Tiberius Gracchus (168 – 133 TCN)
Năm 133 TCN, một vị quan Hộ dân là Tiberius Gracchus đã đưa ra dự
luật cải cách ruộng đất Lex Sempronia Agraria, với ý định tái phân phối
đất cho người nghèo nhằm đưa những người này quay về nông trại. Đất đai
mà Gracchus đề nghị tái phân phối là đất công của quốc gia, vốn nằm dưới
quyền kiểm soát của các vị nguyên lão giàu có và quyền lực.
Nhận thấy Viện Nguyên lão chắc chắn sẽ phủ quyết đề nghị này, nên để
đạt được mục đích, Gracchus đã thực hiện những hành động trái với truyền
thống lâu đời của nền cộng hòa. Ông đưa thẳng đề nghị của mình lên Hội
đồng Bộ lạc mà không hề tham vấn Viện Nguyên lão.
Trước những hành động đầy tính thách thức của Gracchus, Viện Nguyên
lão đã thao túng một vị quan Hộ dân khác là Octavius để phủ quyết dự
luật này. Tuy nhiên, Gracchus lại đi kêu gọi Hội đồng Bộ lạc cách chức
anh ta. Một lần nữa, hành động của Gracchus đã làm xói mòn một trong
những nguyên lý trung tâm của nền cộng hòa: đó chính là tính hợp tác hành động.
Dự luật này rồi cũng được thông qua, nhưng Viện Nguyên lão từ chối
cấp tiền để thực thi. Vì vậy, Gracchus lại đề xuất Hội đồng Bộ lạc thông
qua một dự luật khác, đòi phải trưng thu thuế từ các khu thuộc địa mới
để lấy tiền thực thi ý đồ cải cách ruộng đất của ông. Đây là lần thứ ba
Gracchus thách thức truyền thống cộng hòa, bởi xưa nay việc tài chính và đối ngoại vốn thuộc về thẩm quyền của Viện Nguyên lão.
Với niềm tin rằng việc cải cách ruộng đất cần phải được tiến hành
quyết liệt hơn nữa, Gracchus tuyên bố rằng ông sẽ tiếp tục làm quan Hộ
dân bất chấp nhiệm kỳ sắp kết thúc. Những hành động vì dân chúng của
Gracchus bấy lâu nay đã đập tan nền tảng của nền cộng hòa, và lần này là
then chốt: ông phá vỡ cả nguyên lý tối cao là quyền lực phải bị giới hạn.
Vậy là, trong khi được coi như một người anh hùng của tầng lớp nhân
dân đại chúng, đứng về phía quyền lợi của đa số người dân, thì Gracchus
trở thành cái gai trong mắt các Nguyên lão. Cái kết rồi cũng đến khi ông
và hàng trăm người ủng hộ bị giết chết ngay trong buổi tái cử của mình –
và đây cũng là lần đầu tiên La Mã nổ ra một vụ xung đột đẫm máu.
Những hành động tốt đẹp song lại quá mãnh liệt của Gracchus đã phơi
bày điểm yếu chí tử của nền Cộng hòa: Viện Nguyên lão không có quyền
thông qua luật. Kẻ nào lợi dụng được kẽ hở này, thì kẻ ấy hoàn toàn có
thể bẻ vặn cán cân quyền lực nghiêng về phía mình.
Quan trọng hơn, việc sử dụng bạo lực để đàn áp Gracchus đã đi vào đời
sống chính trị La Mã, và trở thành phương tiện trong các cuộc tranh
chấp quyền lực. Thói quen hợp tác lâu đời của giai cấp cai trị đã bị phá
vỡ. Từ đó về sau, các tranh chấp chính trị không còn được giải quyết
thông qua thương lượng nữa, mà bằng gươm đao và mạng người.
Quá trình phát triển của đế chế La Mã. Thời kỳ Cộng hoà trải dài trong khoảng 500 năm trước Công nguyên. Ảnh: VOX.
Chính quyền tham nhũng
Trong khi chính quyền trung ương dần trở nên bạo lực, giới quý tộc và
bình dân chia rẽ sâu sắc, thì bộ phận quản lý ở cấp địa phương cũng
ngày càng tệ hại.
Tuy liên tục bành trướng và phát triển, song La Mã lại không chú tâm
xây dựng một bộ máy quan liêu chuyên nghiệp để đáp ứng quy mô quốc gia.
Nó vẫn sử dụng mô hình quản lý thành bang lỗi thời. Theo đó, các quan
chấp chính, các pháp quan khi hết nhiệm kỳ sẽ được bổ nhiệm làm tổng đốc
để quản lý các địa phương trong thời hạn một năm. Rõ ràng khoảng thời
gian một năm là quá ít để các tổng đốc có thể nắm bắt văn hóa địa phương
cũng như biết cách quản lý sao cho hiệu quả.
Bên cạnh đó, các tổng đốc không được đào tạo về quản trị, không được
trả lương và thậm chí không bị giám sát khi quản lý. Chính vì vậy, họ
buộc phải (và hoàn toàn có khả năng) tham nhũng để đảm bảo chi tiêu.
Đồng thời, cũng vì không bị ai giám sát nên họ có thể làm bất cứ điều gì
họ muốn, dẫn đến việc cai trị tùy tiện.
Để khắc phục tình trạng tham nhũng tràn lan ở các địa phương, giới
cai trị đã thiết lập một cơ quan để xét xử các tổng đốc tham nhũng.
Tưởng chừng như hành động này có thể vớt vát được tình hình, nhưng hóa
ra nó lại đẩy nạn tham nhũng tràn lên đến bộ máy cai trị trung ương. Bởi
vì giờ đây, các tổng đốc lại dùng tiền tham nhũng để hối lộ cho bồi
thẩm đoàn – những người vốn cũng là đồng nghiệp của họ ở Viện Nguyên
lão.
Chính trị hóa quân đội
Từ khi Cộng hòa La Mã được thành lập cho đến trước khi Marius tiến
hành cải cách quân sự vào năm 104 TCN, họ không hề sở hữu một lực lượng
quân đội chuyên nghiệp. Lúc bấy giờ, chỉ có các chủ đất mới tham gia vào
quân đội. Giới bình dân (không có đất) không được phép phục vụ trong
quân đội, ngoại trừ các trường hợp khẩn cấp.
Vào buổi đầu ấy, các binh lính coi việc tham gia bảo vệ quốc gia là
bổn phận, trách nhiệm, cũng như là một đặc quyền. Và họ trung thành với
nền cộng hòa chứ không phải với các vị tướng, bởi họ là các chủ đất nên
không cần dựa vào tướng lãnh để được ban cho đất đai như một khoản trợ
cấp sau khi giải ngũ.
Tuy nhiên, vấn đề trở nên phức tạp khi cộng hòa ngày càng mở rộng và
phải đối đầu với nhiều đối thủ nguy hiểm như người Germanic và người
Celtic. Nó cần một quân đội thường trực với quy mô lớn hơn, khi mà lực
lượng binh lính gồm các chủ đất hiện không đáp ứng được điều đó.
Để giải quyết vấn đề này, Marius đã bãi bỏ yêu cầu về sở hữu đất đai
trong việc tuyển quân. Hành động này mở đường cho giai cấp đông đảo nhất
của La Mã, tức là giới bình dân, tham gia vào quân đội. Tuy nhiên, giờ
đây lại có thêm một vấn đề phát sinh, ấy là việc trợ cấp cho đội quân
không ruộng đất này sau khi họ giải ngũ.
Trước đây, Viện Nguyên lão chưa bao giờ cấp đất hay có bất cứ kiểu
trợ cấp nào khác cho quân đội vốn là các chủ đất. Sau cải cách, đa số
quân đội là giới thường dân, và việc Viện Nguyên lão cần phải làm là
thay đổi chính sách này để giữ được lòng trung thành của quân đội với
nền cộng hòa.
Tuy nhiên, Viện Nguyên lão đã từ chối. Hành động này đã mở đường cho
các binh lính chuyển lòng trung thành của mình sang giới tướng lãnh, mà
cụ thể ở đây là Marius, khi ông lấy đất đai trao cho binh lính của mình.
Lúc bấy giờ, quân đội đã không còn là lực lượng đấu tranh cho nền cộng
hòa, mà họ trở thành đội quân trung thành dưới trướng vị tướng đứng đầu
của họ.
Nhiều tướng lãnh khác cũng bắt chước Marius, họ dùng đất đai để thao
túng quân đội nhằm theo đổi các tham vọng chính trị. Sulla và Caesar là
hai vị tướng điển hình, họ dẫn dắt quân đội tiến vào La Mã để thiết lập
nên nền cai trị độc tài, phá vỡ kết cấu cộng hòa truyền thống.
Các giá trị cộng hòa bị suy đồi
Trong hàng trăm năm, Cộng hòa La Mã luôn duy trì thực hành các giá
trị truyền thống như danh dự, tự chủ, trung thực, và công chính. Điều
này là cơ sở giúp cho nội quốc La Mã ổn định, cũng như giúp nó chiến
thắng các đối thủ bên ngoài và trở thành bá chủ khu vực Địa Trung Hải.
Tuy nhiên, tới tầm thế kỷ II TCN, khi các mối đe dọa bên ngoài không
còn nữa, cộng với việc La Mã trở nên giàu có nhờ của cải thu được từ các
thuộc địa, các giá trị đạo đức truyền thống bắt đầu dần mai một.
Sử gia Sallust cho rằng trong giai đoạn đầu và giữa của nền cộng hòa,
La Mã thường xuyên bị đe dọa, điều này khiến không cá nhân nào có thể
theo đuổi danh vọng và quyền lực. Nhưng sau khi chinh phục được Ý và Hy
Lạp, La Mã đã loại bỏ được hai mối đe dọa chính. Giới lãnh đạo La Mã giờ
đây có thể theo đuổi danh vọng cá nhân mà không cần phải bận tâm nhiều
tới an nguy của nền cộng hòa nữa. Cũng vì vậy, họ dần vượt ra khỏi các
chuẩn mực chính trị cộng hòa.
Các ứng viên chức vụ công ngày càng biết cách sử dụng các thủ thuật
xảo trá để đạt được mục đích. Hối lộ và chính sách dân túy trở thành
phương tiện quen thuộc để giành lấy quyền lực. Giới cai trị mua chuộc
dân chúng thông qua các bữa tiệc, các thú vui, và các buổi trình diễn để
thắng cử cũng như duy trì địa vị của mình.
Julius Caesar bị Viện Nguyên lão ám sát vì âm mưu độc tài trọn đời. Tranh: Vincenzo Camuccini, 1793.
Học giả cổ đại Plutarch coi Caesar là nhà dân túy thành công nhất,
khi có thể giành lấy tình cảm của dân chúng bằng việc tổ chức các buổi
trình diễn cũng như hối hộ quy mô lớn cho người dân. Khi nhắc đến
Caesar, Plutarch viết rằng, “ông xài tiền một cách vô độ, và nhiều người
nghĩ rằng ông ta đang mua danh tiếng tạm thời với cái giá quá đắt, song
thực tế là ông ta đang mua vị trí giá trị nhất với một cái giá quá rẻ”.
[1]
Tuy vậy, gian lận và chính sách dân túy vẫn chưa phải là thứ tệ hại
duy nhất. Giới cai trị còn dùng tới bạo lực và chém giết để giành quyền
lực. Những nhân vật hàng đầu đã không hề do dự khi giết chết hoặc trục
xuất các đối thủ chính trị. Như trong cuộc xung đột giữa Marius và Sulla
vào năm 88 TCN, Sulla đã lập ra danh sách các quý tộc theo phe Marius
để vây bắt, tịch thu tài sản, và giết hại hàng ngàn người, trong đó có
90 Nguyên lão và 2600 kị sỹ.
Khi mà nền tảng đạo đức truyền thống bị xói mòn như vậy, kỳ cùng sẽ
dẫn đến một nền chính trị suy đồi và những bất ổn xã hội, khiến nền cộng
hòa sụp đổ.
—
Những vấn đề này đã thay đổi trật tự chính trị La Mã, phá vỡ thế cân
bằng vốn có giữa ba bộ phận quân chủ, quý tộc, và dân chủ trước đây; và
cuối cùng, chế độ quân chủ chuyên chế của Octavian cũng thay thế nền
cộng hoà.
Sự sụp đổ của nền Cộng hòa La Mã đã để lại nhiều bài học cho người
đời sau. Trong bài tiếp theo, chúng ta sẽ tìm hiểu xem các nhà lập quốc
Mỹ đã kế thừa những ưu điểm và khắc phục những nhược điểm của Cộng hòa
La Mã như thế nào khi thiết lập nền Cộng hòa Mỹ.
Chú thích:
[1] John Dryden (chuyển ngữ) 2015, Plutarch, Plutarch Lives: Life of Julius Caesar, CreateSpace Independent Publishing Platform, chương 5, mục 4.
Tài liệu tham khảo:
- Ian Scott-Kilvert (chuyển ngữ) 2010, Plutarch, Rome in Crisis, Penguin Classics.
- Anthony Everitt (chuyển ngữ) 2006, Augustus, Augustus: The Life of Rome’s First Emperor, Random House.
- A. J. Woodman (chuyển ngữ) 2008, Sallust, Catiline’s War, The Jurgurthine War, Histories, Penguin Classics.
- Andrew White, The Role of Marius’s Military Reforms in the Decline of the Roman Republic, Hst 499: Senior Seminar, 2011.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét