Hai kẻ bị chỉ đích danh “qùi
gối” trước Tầu không ai khác hơn là Bí Thư Quân Ủy Trung Ương
Nguyễn Phú Trọng và Bộ Trưởng Quốc Phòng Ngô Xuân Lịch. Ấy
vậy mà mấy hôm sau chính ông bộ trưởng lại là kẻ đi Tây cầu
viện. Với tâm thế tráo trở và qụi lụy của bọn quân phiệt
Việt Nam hiện nay thì Ngô Xuân Lịch phải lên đến Giời (cầu cứu)
mới có chút hy vọng, chứ sang Mỹ thì cũng chả nước mẹ gì.
Phen này, chúng mày chắc chết – chết chắc. Còn dân Việt thì
không cách chi thoát Tầu, nếu chưa thoát Cộng.
*
"Tình thế “trần trụi trước miệng sói” của Việt Nam đã khiến những
chuyến thăm qua, viếng lại của các viên chức Việt Nam và Hoa Kỳ nảy lên
mầm hy vọng trong lòng công chúng Việt Nam. Những tuyên bố hợp tác, đặc
biệt là về quốc phòng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, những tin kiểu như năm
tới, lần đầu tiên, một hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ sẽ ghé thăm Việt
Nam có tác dụng “an thần,” chúng không trị “căn,” không giúp Việt Nam có
một đối trọng đủ thực lực để kiểm chế Trung Quốc." G.Đ – Người Việt Online
Mãi tới xế chiều tôi mới chợt nhận ra là mình có chút máu
giang hồ (vặt). Cứ hễ vợ con sểnh mắt ra chút xíu là tôi lại
vội vã khoác ba lô, chạy vù ra phi trường, hối hả bay ngay đi
đâu đó. Bởi cứ đi hoài nên có lúc tôi bị lạc.
Tôi lạc tới một huyện lỵ nhỏ bé, sống bằng nghề nông, giữa
miền Trung nước Thái. Nơi đây có con sông Chao Phraya hiền hoà,
đậm sắc phù sa, chầm chậm trôi qua. Dòng nước đỏ luôn cuốn theo
những đám lục bình, cùng mấy cọng hoa bèo tim tím.
Chiều ở chốn này cũng tím, và tím nhạt nhoà đến tận chân
trời. Duy chỉ cây cỏ cùng đồng lúa là bát ngát xanh, và luôn
lượn quanh bởi mấy cánh cò trăng trắng.
Tôi sinh trưởng ở cao nguyên nên nhìn thấy sông ngòi, đồng ruộng
là đâm ra mê mẩn, cứ như kẻ bị hớp hồn. Sông nước và ruộng
đồng có sức quyến rũ lạ lùng khiến tôi chỉ muốn ở luôn, quên
bẵng đi rằng mình đã đến đây chỉ vì lạc bước!
Cảnh vật yên bình, tĩnh lặng tựa một bức tranh mà tôi lại còn
lọt vô một khu resort ế khách và vắng tanh (như chùa Bà Đanh)
nằm giữa đồng không mông quạnh. Chả có chi xung quanh ngoài côn
trùng, ếch nhái, sáo cò, và loài chim cu gáy.
Qua đến tuần lễ thứ hai tôi mới bắt đầu cảm thấy hơi (hơi)
trống vắng, và chợt thèm nghe lại tiếng người nên bèn mở TV
coi chơi chút xíu. Hoá ra chương trình truyền hình của tất cả
mọi đài ở Thái, theo luật định, đều phải dành hẳn mươi mười
lăm phút (hằng đêm) để trình chiếu về sinh hoạt của Hoàng Gia.
Đại khái là bữa qua nhà vua vừa thăm chỗ này, bữa nay công
chúa đã ghé qua chỗ nọ, ngày mai hoàng hậu sẽ viếng chỗ
kia... Đến đâu thì cũng chừng đó chuyện: khai từ, thắp hương,
dâng hoa, qùi lậy... Ngó (hoài) chán muốn chết luôn!
Thảo nào mà Hoàng Tử Harry, người đứng vị trí thứ 5 trong danh sách
thừa kế ngôi vị của Nữ hoàng Elizabeth, đã nói trong một cuộc
phỏng vấn (hồi tháng 6 năm nay)
rằng: “Không ai trong Hoàng Gia Anh muốn lên ngôi cả,” và “Thỉnh
thoảng, tôi vẫn có cảm giác mình sống trong một hồ cá vàng.”
Nghe thiệt... ớn chè đậu!
Thái Tử Vajiralongkorn lại ở vào một cảnh khác, muốn hay không
thì cũng phải nối ngôi thôi. Bởi vậy dù hoàn toàn không thiết
tha gì ráo với ngai vàng, và dư luận thì rõ ràng cũng chả
đồng thuận gì cho lắm, ông vẫn trở thành vị vua thứ 10 (Rama X)
của vương triều Chakri.
Hoàng tộc Thái, tất nhiên, cần phải có một vị quốc vương. Đám
tướng lĩnh Thái Lan cũng thế. Chế độ quân phiệt ở đất nước
này vốn hơi nhiều tai tiếng nên cần một liên minh, có truyền
thống lịch sử, đứng liền một bên... cho nó đỡ khó coi!
Thảo nào mà ở Thái tôi nhìn đâu cũng thấy chân dung đức vua Bhumibol Adulyadej,
Rama IX. Nay mới hiểu ra là không phải vô cớ mà ngân quĩ quốc
gia dành một số tiền không nhỏ cho việc quảng bá những hình
ảnh nhân từ và khả ái của ông. Đây là việc “an dân,” chứ không
phải là chuyện tình cờ - theo như cách nghĩ ngây thơ, trước
giờ, của một anh thường dân (dấm dớ) như tôi.
Tuy biết không nhiều về nội tình nước Thái, và chỉ bằng cảm
quan của một tên lãng tử, tôi vẫn tin rằng chế độ quân phiệt
Thái (tương đối) khả kham - nếu so với tình hình kinh tế và
chính trị của những nước láng giềng.
Ở Thái dễ thở hơn ở Tầu là cái chắc. Dân Thái sống khoẻ hơn
dân Miên, dân Miến, dân Lào, và dân Phi xa lắc. Đám tướng lãnh
Thái biết giới hạn lòng tham, và trọng pháp. Họ không vội vã,
tựa những tên cướp giựt trên một con tầu vét (tốc hành) như
đám lãnh đạo - hiện nay - ở Việt Nam.
Sự chênh lệch giữa giàu/nghèo ở Thái không đến nỗi nào. Mức
sống giữa thôn quê và thành thị cũng chả khác là bao. Người
dân nơi đâu trông cũng no đủ, tươm tất, và đều có vẻ an bình.
Chim trời cá nước cũng thế. Chúng bay rợp trời hay chen chúc
lúc nhúc khắp nẻo sông hồ. Nhà nước Thái Lan không theo đuổi
chính sách tận thu nên dân chúng không buộc phải tận diệt, theo
kiểu chích cá điện, như ở Việt Nam. Dân Thái còn có niềm tin
vào tương lai. Dân Việt thì không. Chúng ta sống như thể là ngày
mai sẽ không bao giờ đến.
Theo số liệu, tính đến năm 2016, tổng sản phẩm nội địa của Thái Lan là 390.592 USD (đứng thứ 28 thế giới, đứng thứ 9 châu Á và đứng thứ 2 Đông Nam Á sau Indonesia).
Chỉ bằng vào mấy con số này cũng đủ để thấy sự khác biệt
lớn lao giữa chế độ quân phiệt Thái Lan và đảng phiệt Việt
Nam.
Vấn đề e chưa dừng ở đó. Vừa qua, trên mảnh đất Đồng Tâm và
sân bay Tân Sơn Nhất, đám tướng lĩnh Việt đã không chỉ xuất
hiện như một nhóm lợi ích mà còn là một thế lực quân phiệt
hẳn hòi.
Nói cho nó công bằng thì chủ nghĩa quân phiệt (đúng nghĩa) với
chủ trương “hiếu chiến và trang bị đến tận răng” vẫn có thể
được xem là thể chế khả dụng khi đất nước đang bị đe dọa vì
họa ngoại xâm. Cái kẹt là đám quân phiệt ở Việt Nam lại không
hiếu chiến xíu. Biên cương bị xâm lấn, biển đảo bị xâm chiếm
mà họ chỉ bám bờ, để mặc dân bám biểm.
Không chỉ hiếu hoà, họ lại còn vô cùng hiếu hỉ nữa. Từ Đài Bắc, ký giả Wendell Minnick có bài tường thuật (“Can the US get a foot in Vietnam’s door?”) đọc được vào hôm 25 tháng 7 như sau:
“Một cuộc họp giữa các quan chức Bộ Quốc Phòng CSVN và giới kỹ nghệ
vũ khí Hoa Kỳ đã chấm dứt đột ngột khi những quan chức trong Bộ Quốc
Phòng cộng sản cho biết tất cả mọi buôn bán vũ khí cho Việt Nam phải
được cắt ra 25% tổng số tiền để cho vào túi riêng của các quan chức
CSVN.” (“an arms sale would require 25% off the top”, bản dịch Dân Làm Báo).
Theo cách nói của tác giả Tô Văn Trường
thì đây là cách hành xử “ngu và tham.” Không chỉ tham và ngu
mà họ còn sẵn sàng qụy lụy (“bent the knee”) nữa, như nguyên văn
cách dùng chữ của nhà báo Bill Hayton, đọc được trên trang Foreign Policy Magazine, vào hôm 31 tháng 7 năm 2017:
"Vietnam’s history is full of heroic tales of resistance to China.
But this month Hanoi bent the knee to Beijing, humiliated in a contest
over who controls the South China Sea, the most disputed waterway in the
world."(“Việt Nam đầy những câu chuyện anh hùng về cuộc kháng chiến
chống Tàu. Nhưng tháng này Hà Nội đã quì gối, bị làm nhục trong cuộc
cạnh tranh về việc ai kiểm soát Biển Đông, vùng biển có nhiều quốc gia
tranh chấp nhất thế giới.” translated by Phạm Nguyên Trường).
Hai kẻ bị chỉ đích danh “qùi gối” trước Tầu không ai khác hơn
là Bí Thư Quân Ủy Trung Ương Nguyễn Phú Trọng và Bộ Trưởng
Quốc Phòng Ngô Xuân Lịch. Ấy vậy mà mấy hôm sau chính ông bộ
trưởng lại là kẻ đi Tây cầu viện.
Với tâm thế tráo trở và qụi lụy của bọn quân phiệt Việt Nam
hiện nay thì Ngô Xuân Lịch phải lên đến Giời (cầu cứu) mới có
chút hy vọng, chứ sang Mỹ thì cũng chả nước mẹ gì. Phen này,
chúng mày chắc chết – chết chắc. Còn dân Việt thì không cách
chi thoát Tầu, nếu chưa thoát Cộng.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét