Ngày 12 Tháng 7, 2016, Toà Trọng Tài Thường Trực (Permanent
Court of Arbitration) tại The Hague Hòa Lan (case 2013-19) đã ra phán quyết bác
bỏ Đường Lưỡi Bò 9 điểm do Trung Quốc tự vạch ra, nhằm xác nhận chủ quyền của họ
một cách bất hợp pháp, chiếm trên 80% diện tích Biển Đông. Tòa đồng thời xác nhận
chủ quyền của Phi trên bãi Hoàng Nham (Scarborough) và trong hải phận vùng biển
Đông Phi theo Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển UNCLOS 1982 (vùng biển thuộc
chủ quyền (12 hải lý) và vùng biển thuộc đặc quyền khai thác kinh tế EEZ 200 hải
lý).
Đây là một phán quyết có giá trị quan trọng về mặt công pháp
quốc tế. Phán quyết này là một thắng lợi cho Phi Luật Tân, quốc gia đứng nguyên
đơn kiện, nhưng cũng đồng thời rất thuận lợi cho Việt Nam, vì Phi và Việt Nam
là 2 quốc gia tại tuyến đầu, trực tiếp liên hệ đến các tranh chấp lâu dài về chủ
quyền với Trung Quốc. Đồng thời, phán quyết này cũng gián tiếp có lợi cho Nam
Dương, Mã Lai, Singapore, Brunei trong những tranh chấp ở Biển Đông.
Lãnh đạo Trung Quốc đã lên tiếng phủ nhận phán quyết này, đồng
thời ra lệnh cho hệ thống truyền thông nhà nước, các bồi bút trong giới truyền
thông Phương Tây cố tình xem nhẹ sự thất bại nạng nề này. Bắc Kinh cho tuyên
truyền bóp méo sự thật, dù đã bỏ ra hàng triệu Mỹ Kim để mua chuộc, ảnh hưởng
lên phán quyết, nhưng không mấy kết quả.
Trái: Toà Trọng
Tài Thường Trực PCA. Phải: Người dân Philippines ăn mừng trước phán quyết của
PCA ngày 12 tháng 7, 2016.
Từ tháng 7, 2016 đến nay, nhiều biến chuyển quan trọng ảnh
hưởng đến các tương quan chính trị, ngoại giao, kinh tế đã xảy ra giữa các quốc
gia trong vùng Biển Đông và các quốc gia có liên hệ chiến lược đến vùng biển
này.
Tại Hoa Kỳ, ông Trump trở thành vị Tổng Thống thứ 45, với một
chính sách mới chưa được định khung rõ nét cho vùng Đông Á và Thái Bình Dương,
nhưng có khuynh hướng đối đầu qua các động thái quân sự.
Tại Phi, ông Duterte với những tuyên bố dao to búa lớn, được
dân Phi tín nhiệm vào trách vụ Tổng Thống ngày 30 Tháng 6, 2016, đang tiến hành
một chính sách ngoại giao thực dụng (flip flop), đi gần lại với Trung Quốc với
2 chuyến công du Trung Quốc vào tháng 10, 2016 và tháng 5, 2017, nhưng vẫn giữ
liên hệ chiến lược với Hoa Kỳ.
Trong lúc tại Việt Nam, lãnh đạo CSVN bị Trung Quốc (TQ) khống
chế hoàn toàn, vẫn tìm cách đàn áp, dẹp tan các cuộc biểu tình bảo vệ chủ quyền
quốc gia của người dân Việt Nam (từ các cuộc biểu tình chống TQ tại Sài Gòn, Hà
Nội vào năm 2010; chống dàn khoan Hải Dương 981, năm 2014; chống Formosa,
2016).
Phân tích những tin mới nhất cho thấy tình hình Biển Đông vẫn
sôi động liên tục và là điểm nóng chiến lược trên thế giới, ngang ngửa về tầm
quan trọng so với các cuộc chiến tranh chống khủng bố tại Syria, Irak, A Phú
Hãn.
Lý do là tại Biển Đông và Đông Hải, Hoàng Hải (East Sea và
Yellow Sea, 2 vùng biển giữa Đài Loan, Nhật Bản, Nam Hàn), các cuộc tranh chấp
về chủ quyền có xác xuất dẫn đến các đụng độ quân sự giữa 2 cường quốc đứng đầu
thế giới về khả năng quân sự và kinh tế. Hoa Kỳ và Trung Quốc, cũng như giữa Nhật
và TQ và các cường quốc khác ngoài vùng như Ấn Độ, Úc, với hậu quả không lường
trước được và ảnh hưởng đến toàn thế giới.
Noí chung, tuy Trung Quốc vẫn âm thầm tiến hành việc xây dựng
các căn cứ quân sự: phi trường với phi đạo dài cho phi cơ vận tải quân sự, các
dàn ra-đa, phóng hỏa tiễn chống phi cơ, các quân cảng nhân tạo làm trạm tiếp liệu
cho tầu chiến, tổ chức các chuyến du lịch, cho di dân đến sinh sống trên một số
đảo nhân tạo. Nhưng nói chung nhịp độ đã chậm lại hay khựng lại tại một số vị
trí tại Trường Sa, biển Đông Phi Luật Tân, vùng biển quanh Natuna).
Các chiến hạm thuộc
Hạm Đội USS George Washington, Hải quân Ấn Độ, Lực Lượng Tự Vệ Đường Biển Nhật
Bản dàn trận trong cuộc thao dượt Malabar 2014 (hình của Hải Quân Hoa Kỳ).
Hiện nay Trung Quốc không còn giữ thế chủ động tại Biển Đông
và đang rơi vào thế bị động và đang phải đối phó với một chiến dịch tằm ăn dâu
ngược, do chính các quốc gia đang tranh chấp với Bắc Kinh tiến hành, với sự hỗ
trợ của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, Úc.
Trung Quốc
Giấc mơ của lãnh đạo Bắc Kinh là vượt qua Hoa Kỳ về mặt kinh
tế, kỹ thuật, quân sự để trở thành cường quốc đứng đầu thế giới, vào năm 2040.
Một trong hướng bành trướng là giải tỏa sự chật hẹp, giới hạn về không gian
sinh tồn trong vùng cận hải với ASEAN (Biển Đông), Nhật Bản, Nam Hàn (Đông Hải
và Hoàng Hải), mở đường ra đại dương về phía Đông về Thái Bình Dương và phía
Tây về Ân Độ Dương. Và đương nhiên Biển Đông là mục tiêu tương đối dễ chiếm hơn
với sự đồng lõa của thành phần tay sai lãnh đạo CSVN và sự phân hóa và yếu kém
về khả năng quân sự các quốc gia ASEAN ven biển.
Qua việc ngang nhiên xâm chiến bãi Hoàng Nham (2012) thuộc
chủ quyền Phi vào thời TT Obama (lúc đó Hoa Kỳ không có một phản ứng chống đối
nào) và âm thầm tiến chiếm thêm một số vị trí chiến lược, qua việc xây các đảo
nhân tạo ngay giữa vùng quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, lãnh đạo Bắc
Kinh, nhất là Tập Cận Bình đã biết không thể lùi bước vì rất sợ bị mất mặt và ảnh
hưởng đến quyền lực trong nội bộ Đảng.
Vào đầu năm 2017, sau khi gặp một đối thủ bất nhất và không
lường trước đây với TT Hoa Kỳ Trump, Tập Cận Bình đang rơi vào thế khó khăn về
vấn đề Bắc Hàn và bị động về Biển Đông, do một phần muốn duy trì sự tồn tại của
Bắc Hàn, mặt khác không muốn tạo lý do chính đáng để Hoa Kỳ cầm đầu một liên
minh đánh phủ đầu, tiêu diệt tiềm năng quân sự của Bắc Hàn và cũng như thi hành
một chính sách đối đầu cứng rắn hơn tại Biển Đông.
Trung Quốc đã mất hơn 10 năm để chuẩn bị thực lực hải quân
và âm mưu xâm chiếm bãi Hoàng Nham. Và hơn 20 năm từ năm 1988, sau khi chiếm trọn
quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, với sự đồng lõa dâng bán chủ quyền
của lãnh đạo CSVN, Trung Quốc mới lên tiếng tự xác nhận chủ quyền qua đường Lưỡi
Bò 9 Điểm trong những năm đầu của thế kỷ 21, và dựa vào đó để âm thầm xâm chiếm
Biển Đông, bằng đường lối mềm, câu dụ qua quyền lợi đầu tư, áp lực về giao
thương kinh tế, đe dọa bằng quân sự,...
Âm mưu lấn chiếm tiệm tiến loại tằm ăn dâu của TQ hiện đang
gặp nhiều khó khăn ngăn cản sự thành công của chiến lược Đại Hán tại Biển Đông,
kể từ 2013:
1. Vấn đề Biển Đông đã được quốc tế hóa một cách rộng rãi,
trở thành một đề tài nóng thường trực có ảnh hưởng đến an ninh thế giới, với sự
quan tâm của các cường quốc ngoài vùng như Ấn Độ, Úc, Nhật, Hoa Kỳ, Liên Âu.
2. Trung Cộng đã thất bại không hoàn toàn phân hóa được các
quốc gia ASEAN ngoại trừ Cam Bốt, bị thất bại nặng trong vụ kiện ra trước Tòa
PCA (2013-2016), lúng túng trước đòn vừa hợp tác, vừa đối đầu của TT Phi
Duterte, bị động trong các Hội Nghị Thượng Đỉnh, khi bị vạch mặt tố cáo có những
hành động xâm lược.
3. Phản ứng liên hoàn và đối đầu của Nhật, Úc, Ấn Độ và nhất
là không tiên liệu được phản ứng của Hoa Kỳ, đối thủ hàng đầu, và bị tố cáo đồng
lõa với Bắc Hàn trong cuộc khủng hoảng về khả năng nguyên tử của Bắc Hàn.
Những khó khăn nan giải của TQ này cũng đi đôi với những khó
khăn liên hệ đến những biện pháp bảo vệ chủ quyền về kinh tế của các quốc gia
liên hệ. Khối lượng đầu tư vào TQ bị khựng lại, nhiều hãng xưởng Hoa Kỳ, Nhật Bản
đã lợi dụng dịp này, rút ra khỏi TQ và chuyển sang các quốc gia khác, vì không
chịu nổi cạnh tranh bất chính và chính sách lấy cắp kỹ thuật vi phạm bản quyền
có hệ thống. Các mặt hàng tiêu thụ phổ thông của TQ ngày nay gặp sự cạnh tranh
gay gắt các quốc gia khác như ASEAN, Ấn Độ và sự tẩy chay từ một số quần chúng.
Trong lúc sự thay đổi cấu trúc của nền kinh tế TQ từ sản xuất
sang dịch vụ, kỹ thuật tiền tiến, không đạt mức hiệu quả mong muốn vì cấu trúc
luật lệ và sự tuân thủ các luật lệ về phẩm chất, về mức an toàn cho người tiêu
thụ, ảnh hưởng lên môi sinh, bảo vệ sự cạnh tranh trong sáng, hầu như không có.
Và muốn thay đổi triệt để thì sẽ ảnh hưởng nặng nề đến quyền lợi của bộ phận
lãnh đạo và guồng máy đảng CSTQ. Mức tăng trưởng kinh tế của TQ đã giảm từ 10%
xuống còn 6,7%, và sẽ còn suy giảm nữa dù lãnh đạo CSTQ đã cho bơm vào guồng
máy kinh tế hàng trăm Tỷ MK. Nếu trừ ra phần phát triển liên hệ đến phần đầu tư
vào hạ tầng cấu trúc, địa ốc, mức phát triển thật của TQ sẽ ở mức 3%, tương
đương với mức 2,6% của Hoa Kỳ.



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét