Trần Đại Quang, hình chụp tháng Năm, 2016. Ảnh Reuters
“Hưng - Diệt”
Đã biệt tích những nét thuần phác nên thơ, Hà Nội giờ đây chỉ
còn là nơi cư trú của chủ nghĩa tư bản dã man và một chảo lửa chính trị sẵn
sàng thiêu đốt bất cứ kẻ nào sa chân.
Năm Mười Bảy… Không chỉ ông Đinh Thế Huynh - nhân vật số 2
trong đảng và có thể là quyền lực thứ 5 trong Bộ Chính trị - vắng bóng suốt từ
đầu năm 2017 đến giờ, mà cả ông Trần Đại Quang - nhân vật số 2 trong Bộ Chính
trị - cũng vắng mặt một cách đầy khó hiểu và khó nghĩ từ cuối tháng Bảy đến
nay…
Một ít hạt sương buổi sớm còn đọng lại đang bị thay thế cấp
tốc bởi những gì mà dân gian truyền tụng về quy luật “Sinh Lão Bệnh Tử” cho đời
người và “Hưng - Diệt” của các triều đại bắt buộc phải đóng lại cứ mỗi khi lịch
sử sang trang.
“Sức khỏe lãnh đạo” - một chủ đề đột ngột bùng phát và gây
nghi ngờ lớn trong công luận trong những ngày gần đây - đã gần như chính thức
hình thành một cơn “khủng hoảng lãnh đạo” trong nội bộ đảng cầm quyền, nối tiếp
một cách đầy “linh cảm” từ hai cơn khủng hoảng ngay trước đó là “khủng hoảng Đồng
Tâm” và “khủng hoảng Việt - Đức”.
Khủng hoảng năm Mười Bảy
Chỉ có thể so sánh năm 2017 với hai giai đoạn biến động lớn
về nội trị là những năm 1985 - 1986 với cơn bão giá - lương - tiền khi lạm phát
phi mã đến gần 700% khiến xã hội và đời sống người dân khốn đốn, và giai đoạn
1990 - 1991 sau khi Liên Xô sụp đổ đã tạo hiệu ứng một trận sóng cồn đòi dân chủ
và đa nguyên trong đời sống chính trị Việt Nam.
Nhưng khác với hai giai đoạn trên, những cơn khủng hoảng đất
đai và nội bộ đảng chỉ xuất hiện trong những năm gần đây và đang hoan ca với
nhau lên đỉnh cao trào.
Vào giai đoạn những năm 2005 - 2008 khi làn sóng khiếu kiện
tố cáo về đất đai bùng nổ, tỷ lệ đơn thư khiếu nại tố cáo về đất đai đã chiếm đến
70% hoặc hơn trong tổng số đơn thư mà người dân gửi đến các cơ quan công quyền.
Nhưng trong vài năm gần đây, tỷ lệ đó đã vọt đến 95%, quá đỗi xứng đáng để vấn
đề đất đai trở thành một cuộc khủng hoảng cực lớn trong hiện tại và tương lai gần,
nhất là khi “đảng và nhà nước ta” vẫn khư khư ôm giữ bản hiến pháp về “sở hữu đất
đai toàn dân” mà không hề có ý định công nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai
cho tuyệt đại đa số dân chúng.
5 năm trước, vụ Đoàn Văn Vươn và gia đình dùng mìn và súng tự
tạo chống đoàn cưỡng chế ở Tiên Lãng, Hải Phòng đã được xem là ghê gớm về mức độ
phản kháng của người dân đối với chính quyền. Nhưng vào năm Mười Bảy, “khủng hoảng
Đồng Tâm” đã vượt trên tất cả những hành động phản kháng trong quá khứ để trở
thành một sự đối đầu, đối kháng sinh tử không chỉ giữa cá nhân với nhà cầm quyền
mà là bởi một tập thể đông đảo người dân mất đất với chế độ toàn trị.
2017 cũng là năm đang biến diễn dày đặc nhất những cuộc khủng
hoảng đa dạng và hơn tất cả những năm trước, cuộc khủng hoảng nào cũng như thể
đóng dấu “Vong Diệt” cho đoạn cuối của một triều đại.
Điều đáng mỉa mai là không bao lâu sau khi Bộ Ngoại giao và
Chính phủ Việt Nam hãnh diện tổng kết về những thắng lợi trong thời kỳ “ngoại
giao đa phương hóa”, hệ thống tuyên giáo và các tờ báo đảng tiếp tục tô hồng
cho thành tích chưa từng có của Việt Nam trên trường quốc tế, trong khi dư chấn
của trận động đất mang tên Đồng Tâm còn rung bần bật, cuộc khủng hoảng ngoại
giao Đức - Việt đã nổ ra ở một chiều kích khó ngờ: bắt cóc.
Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến khủng hoảng Đức -
Việt rất có thể là căn bệnh báo cáo quá thiên về thành tích và tầm - tâm dự báo
phản ứng đang chìm sâu tận đáy của các cơ quan ngoại giao, an ninh và tình báo
Việt Nam. Ba tháng sau “khủng hoảng Đồng Tâm” mà nói theo tục ngữ dân gian
“chưa thấy quan tài chưa đổ lệ”, não trạng của hệ thống “thi hành công vụ” Việt
Nam vẫn như đồng hóa hành động đàn áp dân chúng trong nước với bắt cóc ở nước
ngoài làm một. Não trạng đó, cộng với tâm lý xu nịnh bợ đỡ đã ăn sâu vào cốt tủy
từ dưới lên trên, hẳn đã khiến không thể toát ra một báo cáo nào dự báo phía Đức
sẽ phản ứng mạnh sau vụ “bắt cóc Trịnh Xuân Thanh” mà có thể kéo theo cả một hệ
thống các nước châu Âu quay lưng với “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam”.
Rồi cứ như một thứ “điềm”, những cuộc khủng hoảng lại nối
đuôi nhau cùng lao tới cơn “khủng hoảng lãnh đạo”.
Nhưng “khủng hoảng lãnh đạo” vẫn chỉ là một cụm từ thuần túy
chính trị học. Không ít dư luận từ lâu nay đã gọi thẳng tên của nó: khủng hoảng
nội bộ đảng.
Nơi chính trường bình yên trong ác mộng
Mầm mống rõ nhất của cơn “khủng hoảng nội bộ đảng” đã hiện
ra từ năm 2012 với “nước mắt Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng rơi vào lịch sử” -
như một bợ đỡ vừa ẩn dụ vừa lộ liễu của một người bị nhiều dư luận xem là “bút
nô của đảng” khi đề cập lại cuộc chiến với Nguyễn Tấn Dũng.
Hai năm sau đó, lần đầu tiên xã hội Việt Nam được chứng kiến
một cái chết “công khai”: Nguyễn Bá Thanh. Quá nhiều nghi ngờ của dư luận về thực
chất cái chết của ông Thanh.
Nhưng Nguyễn Bá Thanh khi đó mới chỉ là ủy viên trung ương.
Còn vấn đề “sức khỏe lãnh đạo” đang bị quá nhiều dư luận nghi vấn và đồn đãi về
giai đoạn tận cùng của nó đã lên đến cấp ủy viên bộ chính trị. Không những thế,
cả hai ông Đinh Thế Huynh và Trần Đại Quang còn được xem là những ứng cử viên
cho chức tổng bí thư đảng vào kỳ lúc nào ông Nguyễn Phú Trọng quyết định “hạ
cánh”.
Năm Mười Bảy. Vụ “sức khỏe lãnh đạo” là lần thứ ba liên đới
mật thiết đến bí ẩn cung đình giới lãnh đạo cao cấp của Việt Nam, sau vụ “tau
khỏe mà, có chi mô” của cố trưởng ban nội chính trung ương Nguyễn Bá Thanh vào
cuối năm 2014 và vụ “tướng chữa bệnh Phùng Quang Thanh” vào giữa năm 2015.
Hiện tượng thông tin hỗn tạp và ngày càng nhiễu loạn về quan
chức lãnh đạo cao cấp lại phát tín hiệu báo trước một sự biến động nào đó đủ lớn
trong nội bộ đảng.
Vào cuối năm 2014, quá trình truy tìm sự thật về căn bệnh
ung thư của ông Nguyễn Bá Thanh đã dẫn đến một cuộc chạy đua dữ dằn cùng kết cuộc
Hội nghị trung ương 10 về “bỏ phiếu thăm dò tín nhiệm tổng bí thư” với kết quả
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về đầu bảng.
Giữa năm 2015, vụ Bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh “mất
tích tại Paris” đã mở màn cho một cuộc chiến quyền khốc khốc liệt trong đảng,
kéo dài đến tận khi kết thúc Đại hội 12 của đảng cầm quyền với sự ra đi của ông
Nguyễn Tấn Dũng và chiến thắng tuyệt đối của ông Nguyễn Phú Trọng.
Năm Mười Bảy…
Sẽ còn những ai nữa bất an về sức khỏe và bất định về tâm thần?
Bất chợt hồi tưởng về Yuri Andropov và Konstantin Chernenko
- những nhà lãnh đạo đã quá cố trước khi Liên Xô tan rã…
Tiếp sau các cuộc khủng hoảng Đồng Tâm và ngoại giao Đức -
Việt, hiện tượng “sức khỏe lãnh đạo” - đang dần tròn trịa cái cơ thiên “Sinh
Lão Bệnh Tử” - có thể khiến luồng vận động chính trường Việt Nam lao đến những
biến động nào?
Hay con sóng dữ nào - nơi chính trường bình yên trong ác mộng…

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét