Tổng Thống Donald Trump thích các ông tướng, điều đó ai cũng
biết. Ông thích mọi sự liên quan đến quân đội nhưng đặc biệt ông thích các ông
tướng.
Khi ông bắt đầu mời các ông tướng vào các chức vụ quan trọng
bên ngoài lãnh vực quân sự, một số các nhà chính trị học đã bày tỏ lo ngại sợ
là sẽ có những phản ứng không thích hợp. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau, trước
sự thiếu kinh nghiệm ngoại giao và cai trị của tổng thống, một số các nhà bình
luận lại quay sang đặt niềm tin vào các ông tướng, hy vọng các ông sẽ giúp điều
chỉnh những điều không thích ứng trong phản ứng của chính phủ Trump.
Nhưng Tiến Sĩ Jonathan Stevenson, một chuyên gia ở viện
nghiên cứu International Institute for Strategic Studies ở Anh Quốc, và cựu
viên chức cao cấp của Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ thì khẳng định, “Các ông
tướng không thể cứu nổi tình hình.”
Tại diễn đàn Shangri-La ở Singapore năm nay, khi một người hỏi
Bộ Trưởng Quốc Phòng James Mattis là liệu, với sự việc là Tổng Thống Trump đã
rút khỏi Ðối Tác Xuyên Thái Bình Dương TPP và Hiệp Ước Paris về khí hậu, phải
chăng chúng ta đang “chứng kiến sự phá hủy” của trật tự thế giới do Hoa Kỳ lãnh
đạo trong thời hậu chiến chăng. Nhái một lời nhận xét vốn thường được nói là của
cố Thủ Tướng Winston Churchill, vị cựu tướng trả lời: “Hãy nhẫn nại với chúng
tôi. Một khi chúng tôi đã thử hết mọi lựa chọn khác, người Mỹ sẽ làm điều
đúng.”
Lời nói đó tiêu biểu cho ông Mattis: duyên dáng, đầy học thức
và tin tưởng vào tương lai của đất nước mình. Nhưng nó cũng đồng thời rất nản
chí, bởi nó cho thấy ông không đồng ý với Tổng Thống Trump, nhưng không làm gì
được cả.
Mà thực sự, theo ông Stevenson, chúng ta cũng nên hơi buồn
trong những ngày này. Vào lúc khởi đầu của nhiệm kỳ tổng thống, hầu hết những
người bên ngoài, kể cả một số các vị dân cử Cộng Hòa, đã hy vọng là một nhóm
các ông tướng và cựu tướng – như ông Mattis ở Bộ Quốc Phòng, ông John Kelly ở Bộ
Nội An, Trung Tướng H.R. McMaster ở Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia – sẽ kiểm soát bớt
những bản năng tệ hại nhất của tổng thống. Hơn thế, tổng thống đã đưa ông Kelly
sang thay thế ông Reince Priebus làm đổng lý văn phòng, khẳng định là một quân
nhân sẽ có thể mang lại trật tự cho một tòa Bạch Ốc quá rối loạn.
Nhưng sáu tháng rồi, có vẻ những hy vọng đó vẫn chưa được
đáp ứng. Các ông tướng đã không làm gì bao nhiêu để thay đổi tổng thống, chứ đừng
nói định hình cho một chính sách ngoại giao mà cho đến nay rối bời.
Cứ tính thử vấn đề Bắc Hàn: Khi Bình Nhưỡng công khai lờ đi
những lời tuyên bố nảy lửa của tổng thống, ông đưa ra chỉ dấu là Hoa Kỳ có thể
tin cậy được là Trung Cộng sẽ mang áp lực tài chánh; ca ngợi sự khôn ngoan của
ông Kim Jong Un của Bắc Hàn, và đề nghị điều đình với ông Kim. Vài tháng sau, tổng
thống có vẻ đã thấy sự tin cậy vào Bắc Kinh là không đúng chỗ, khép cửa lại với
Trung Cộng và nay trở lại đe dọa quân sự.
Trong khi đó ở Trung Ðông, tổng thống đã gieo rối loạn về
chính sách của Hoa Kỳ với Syria (liệu chúng ta hợp tác với Nga và ông Assad hay
là ủng hộ phe nổi dậy); khuyến khích sự cô lập Qatar trong vùng, mặc dầu Qatar
là quốc gia đã cho Hoa Kỳ lập căn cứ quân sự lớn nhất vùng; và khuyến khích sự
đối đầu giữa Saudi Arabia và Iran. Hơn thế qua việc nhất định cô lập Iran, tổng
thống đang đẩy chính phủ ôn hòa của Iran vào một cái thế ngày càng phải theo
phe bảo thủ quá khích.
Rồi chuyến viếng thăm vụng về của tổng thống đến Âu Châu,
nơi ông từ chối xác nhận sự khẳng định của Hoa Kỳ cho Ðiều 5 của Hiệp Ước
Washington thành lập nên Liên Minh Bắc Ðại Tây Dương, nền tảng của an ninh tập
thể của Âu Châu. Ông còn mắng mỏ các thành viên Âu Châu của NATO và bảo họ phải
chi thêm cho quốc phòng của mình. Tuy sau đó ông đã rút lại và đã khẳng định sự
ủng hộ cho Ðiều 5 nhưng liên hệ xuyên Ðại Tây Dương nay vẫn còn lung lay.
Gần đây nhất, tổng thống đột ngột tuyên bố là những người Mỹ
đổi giới tính sẽ bị cấm không cho nhập ngũ. Lời tuyên bố trên Twitter đó là để
chiều lòng những người ủng hộ nòng cốt của tổng thống, mà ông coi trọng hơn là
chính sách quốc gia. Quân đội hổng cẳng, và tiến trình cứu xét lâu dài để đi đến
một giải pháp tốt đẹp đã bị sụp đổ. Sau mỗi một vụ như vậy, những tin tức lộ ra
cho thấy các ông tướng hoặc là bị đại bại trước các cố vấn như ông Steve Bannon
hay, thường hơn, chả được để ý đến.
Ở bên lề, các ông tướng có thể tìm cách giảm bớt sự bộp chộp
của ông boss, và đôi khi chứng tỏ độc lập một chút. Như khi ông Mattis từ chối
ca tụng và thề trung thành với tổng thống trên truyền hình trong cuộc họp nội
các hôm Tháng Sáu, hay mới đây, tuyên bố là cho đến khi có đủ thủ tục giấy tờ,
quân đội vẫn coi mọi người Mỹ bình đẳng trong việc nhập ngũ. Và một đôi khi
cũng có một số chiến thắng nhỏ.
Ông Ezra Cohen-Watnick, một nhân vật được Tướng Michael
Flynn đưa vào, vốn dính líu đến một bản nghiên cứu nói là tổng thống đang bị tấn
công bởi những kẻ chủ trương toàn cầu hóa và Hồi Giáo quá khích đang tìm cách
phá hủy Hoa Kỳ, đã bị đuổi việc. Tuần rồi, Tướng McMaster cũng cách chức ông
Derek Harvey. Hai ông này, vốn là đồng minh trong Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia,
thường xuyên thúc đẩy phải có hành động mạnh hơn đối với Iran.
Nhưng khó có thể có chuyện là các ông tướng chế ngự được tổng
thống ở mức chiến thuật. Tướng Joseph Dunford Jr., tham mưu trưởng liên quân,
và ít nhất trên giấy tờ là người trung gian và cố vấn của tổng thống về quân đội,
rất hiếm có được một cuộc gặp gỡ tay đôi với tổng thống.
Dựa trên các ông tướng thực ra là một điều không đúng, và
nhiều người đã bám vào trước sự thiếu kinh nghiệm nhưng lại tự kiêu của tổng thống.
Các ông tướng Hoa Kỳ theo truyền thống không có nhiệm vụ phải làm chính sách,
chứ đừng nói đến liên hệ đến chính trị.
Hồi thập niên 1950, nhà chính trị học Samuel Huntington đã
nhận xét là các sĩ quan của quân đội Hoa Kỳ đã qua thời gian trở thành một nhóm
các chuyên gia có kỷ luật nhưng phi chính trị. Ông đã đưa ra một sự phân quyền
như sau: Quân đội tuân thủ các lãnh tụ dân sự trong các lãnh vực chiến thuật và
chính trị và các lãnh tụ dân sự tôn trọng quân đội trong việc thi hành chính
sách.
Ðó là tiêu chuẩn cho đến sau chiến tranh Việt Nam, khi nhiều
học giả đã tổ chức giảo nghiệm cuộc chiến – cũng như Tướng McMaster trong cuốn
sách “Derelection of Duty (Lơ Là Trách Nhiệm)”- kết luận là các vị chỉ huy quân
sự phải thách thức các lãnh tụ dân sự nhiều hơn. Và rồi qua thời gian chuyện đó
xảy ra. Khi Ngũ Giác Ðài giành được một uy quyền lớn hơn hậu 9/11, lan sang các
lãnh vực của cảnh sát và ngoại giao, lằn ranh giữa dân sự và quân sự bị lu mờ.
Sự khẳng định quyền của các tư lệnh lên đến tột đỉnh khi Tổng Thống George W.
Bush, đang bị lâm nguy, đã phải trông cậy vào Tướng David Petreaus để gỡ Hoa Kỳ
ra khỏi vũng lầy ở Iraq trong cuộc “tăng quân” năm 2007.
Tổng Thống Barack Obama tái khẳng định kiểm soát dân sự khi
ông cách chức Tướng Stanley McChrystal hồi năm 2010, và rút quân khỏi Iraq năm
2012.
Sự kiểm soát dân sự của quân đội đã trở về như cũ, nhưng sự
lãnh đạo dân sự đã thay đổi. Khác với ông Obama, nhận trách nhiệm cho các hành
động quân sự của chính phủ mình, ông Trump đã công khai đổ lỗi cho quân đội cho
những vụ có thiệt hại chính trị, chẳng hạn như cuộc đột kích ở Yemen khiến một
quân nhân SEAL và đến 30 thường dân thiệt mạng. Ông cũng công khai bất đồng với
ông Mattis về tra tấn, cắt giảm ngân sách ở Bộ Ngoại Giao và biến đổi khí hậu.
Tuy vậy, vẫn có một sự chờ đợi là tổng thống vốn mê mọi sự
dính đến quân đội thì các ông tướng dần sẽ nắm được một phần nào kiểm soát
chính sách ngoại giao, đặc biệt là Tướng McMaster thay thế Tướng Flynn ở Hội Ðồng
An Ninh Quốc Gia.
Chuyện đó đã không xảy ra. Thay vì vậy tổng thống đã lờ đi hội
đồng và vai trò điều phối chính sách ngoại giao, biến hội đồng thành một cơ
quan ứng biến để biện minh cho hành động của tổng thống. Các ông tướng vẫn ở
bên ngoài nhóm thân cận. Tướng McMaster công nhận là khi tổng thống gặp riêng
ông Vladimir Putin ở Hội Nghị G20 là không có nghị trình – và dĩ nhiên không có
ông McMaster.
Các ông tướng đã thất bại vì họ không phải là chính trị gia.
Ðại đa số các ông tướng, thêm vào đó, rất tôn trọng trật tự quân giai và không
thích trực tiếp thách thức tổng tư lệnh. Chính điều này cho thấy lời nhận xét của
ông Mattis ở Singapore là đáng ngạc nhiên. Nhưng có lẽ chúng ta sẽ rất ít khi
nghe được điều đó.
Vậy ai sẽ giúp chống đỡ cho sự thiếu kinh nghiệm của tổng thống
về vấn đề ngoại giao nếu chúng ta không thể trông cậy vào các ông tướng.
Rất từ từ nhưng những sự chống đỡ đó đang hiện hình. Quốc Hội
đang sử dụng quyền giữ tiền để bác bỏ cắt giảm quá mức ngân sách viện trợ và chống
lại việc tổng thống tính cắt giảm tối đa ngân sách Bộ Ngoại Giao. Hơn thế, đáng
kể hơn và bất bình thường hơn là Quốc Hội đang buộc tổng thống theo một số
chính sách ngoại giao mà ông không muốn như là trừng phạt Nga.
Nhưng Quốc Hội là một định chế không thể nào phản ứng nhanh
như tổng thống và một hội đồng an ninh quốc gia. Và đó là điều khiến chúng ta
nên lo ngại nếu ngày mai một vấn đề ngoại giao bùng nổ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét