Bản quyền hình ảnh Andre
Seale / Alamy Stock Photo
Những cơn sóng sủi bọt khổng lồ
như bức tường dựng đứng cao đến 10 tầng lầu. Những cửa khoang tàu bị nghiền nát
và buồng lái khoang trên bị ngập nước. Con quái vật khổng lồ cao đến 30 mét trỗi
dậy từ thinh không, lật nhào thuyền bè như bật tung những chiếc nắp chai, rồi lập
tức rút lui vào biển sâu trong chớp mắt. Những mô tả dữ dội về "sóng
sát thủ" (còn gọi là sóng độc) lớn đến bất thường xuất hiện từ biển xanh
đã được thủy thủ kể cho nhau nghe qua hàng thế kỷ.
Có rất ít hoặc hầu như không có bằng
chứng rõ ràng nào, và kích cỡ của cơn sóng thường được phóng đại sau mỗi lần kể,
nên chẳng có gì lạ khi các nhà khoa học từ lâu đã phớt lờ và coi chúng như chuyện
hoang đường.
Mãi cho đến khoảng nửa thế kỷ gần
đây, sự hoài nghi này mới được giải tỏa bằng các chứng cứ khoa học.
Theo hiểu biết tốt nhất của các
nhà khoa học về cơ chế tạo thành sóng biển, một con sóng cao đến 30m có thể khoảng
30.000 năm mới xuất hiện một lần. Những cơn sóng sát thủ có thể được xếp chung
với những huyền thoại như nàng tiên cá hay quái vật biển khơi.
Tuy nhiên, giờ đây ta biết chúng
không phải là huyền thoại biển khơi.
Cơn sóng là một sự xáo trộn dịch
chuyển năng lượng giữa hai điểm.
Những cơn sóng quen thuộc nhất xảy
ra bên trong khối nước, nhưng ngoài ra còn có rất nhiều các loại sóng khác, chẳng
hạn như sóng âm thanh di chuyển vô hình trong không khí.
Mặc dù một con sóng trào qua Đại
Tây Dương không giống như sóng radio, nhưng chúng hoạt động theo cùng một
nguyên tắc, và người ta có thể sử dụng những phương trình giống nhau để mô tả
sóng.
Sóng sát thủ phải cao ít nhất gấp
đôi "chiều cao của sóng lớn", nghĩa là phải cao gấp đôi chiều cao
trung bình của ba con sóng cao nhất trong một khoảng thời gian nhất định.
Theo những đo đạc từ vệ tinh, những
con sóng khổng lồ đó không chỉ tồn tại, mà chúng còn xảy ra khá thường xuyên. Kẻ
từng hoài nghi giờ đã sai, và những gì từng là truyện kể đã trở thành sự thật.
Hình ảnh MIGUEL
RIOPA/AFP/Getty Images
Điều này đã dẫn các nhà khoa học
đến nhiều câu hỏi khó trả lời hơn.
Nếu sóng sát thủ tồn tại, vậy cái
gì đã gây ra các đợt sóng khổng lồ? Và điều quan trọng hơn với người đi biển là
liệu người ta có thể dự báo trước chúng không?
Giả thiết khiến sóng dâng cao
Mãi đến thập niên 1990, ý tưởng của
các nhà khoa học về cách sóng biển hình thành vẫn còn bị ảnh hưởng nặng nề bởi
công trình của nhà toán học và đại dương học người Anh tên Michael Selwyn
Longuet-Higgins.
Trong công trình xuất bản từ thập
niên 1950 trở đi, ông công bố rằng khi hai hoặc nhiều đợt sóng va chạm vào
nhau, chúng có thể kết hợp và tạo ra một cơn sóng mạnh hơn qua một quá trình gọi
là "độ nhiễu tăng cường" ("constructive interference").
Theo nguyên tắc "chồng chất
tuyến tính" ("linear superposition"), chiều cao của con sóng mới
đơn giản là bằng tổng chiều cao của các con sóng ban đầu. Quan điểm này cho rằng
một con sóng sát thủ chỉ có thể thành hình nếu có đủ số lượng các con sóng tràn
đến cùng một lúc.
Tuy nhiên, trong suốt thập niên
1960, nhiều chứng cứ cho thấy mọi việc có vẻ không đơn giản như thế.
Người đóng vai trò hàng đầu là
nhà toán học và vật lý học Thomas Brooke Benjamin, người nghiên cứu cơ chế của
các con sóng trong một bồn chứa nước dài trên vùng nước nông tại Đại học
Cambridge.
Cùng với sinh viên Jim Feir,
Benjamin chú ý rằng trong khi các con sóng có thể bắt đầu với tần số và bước
sóng liên tục, chúng vẫn sẽ thay đổi bất ngờ ngay sau khi được tạo ra. Con sóng
với bước sóng dài hơn bắt kịp những con sóng có bước sóng ngắn hơn. Điều này có
nghĩa rất nhiều năng lượng cuối cùng đã được tập trung lại trong những con sóng
khổng lồ nhưng chỉ tồn tại trong thời gian ngắn ngủi.
Ban đầu, Benjamin và Feir cho rằng
có sự cố xảy ra trong thiết bị của họ.
Tuy nhiên, việc tương tự xảy ra
khi họ lặp lại thí nghiệm ở một bồn chứa cỡ lớn hơn tại Phòng thí nghiệm Quốc
gia Anh Quốc gần London. Hơn nữa, những nhà khoa học khác cũng tìm ra kết quả
tương tự.
Trong rất nhiều năm, hầu hết các
nhà khoa học tin rằng "sự bất ổn Benjami-Feir" này chỉ xảy ra ở các
con sóng được tạo ra trong phòng thí nghiệm, vốn di chuyển theo cùng hướng: một
tình huống nhân tạo.
Tuy nhiên, giả thiết này ngày
càng không thể đứng vững khi đối mặt với những bằng chứng trong đời thật.
Vào 3 giờ sáng ngày 12/12/1978, một
tàu chở hàng của Đức, tàu The München, gửi ra những tín hiệu khẩn cấp từ vùng
giữa Đại Tây Dương. Bất chấp những nỗ lực cứu hộ ráo riết, con tàu biến mất và
không ai có thể tìm ra; 27 người thiệt mạng. Một xuồng cứu sinh đã được tìm thấy.
Dù được treo ở vị trí cao 20m
trên mực nước biển và không hề có dấu hiệu bị cố ý hạ xuống, chiếc xuồng cứu
sinh có vẻ như đã bị đánh bởi một lực cực mạnh.
Tuy nhiên, thứ đã thực sự lật
tung khu vực lên là một con sóng đã tấn công giàn khoan dầu Draupner ngoài khơi
Na Uy ngay sau thời điểm 3 giờ 20 phút chiều ngày đầu năm mới năm 1995.
Các đợt gió từ bão nhiệt đới thổi
và các cơn sóng cao đến 12m tấn công vào giàn khoan, vì thế công nhân được lệnh
trú ẩn vào bên trong.
Không ai nhìn thấy con sóng,
nhưng nó được ghi nhận lại bởi hệ thống theo dõi tầm xa dùng tia laser và đo được
đến 26m từ đáy lên đến đỉnh.
Ngọn sóng khổng lồ Draupner đã
đưa khoa học sang trang mới với sóng sát thủ.
Khi các nhà khoa học từ Dự án
MAXWAVE của Liên minh Châu Âu phân tích 30.000 bức ảnh vệ tinh trong thời gian
ba tuần trong năm 2003, họ tìm thấy 10 con sóng khắp địa cầu với độ cao 25m hoặc
hơn thế.
"Những đo đạc vệ tinh cho thấy
có rất nhiều con sóng khổng lồ trên đại dương hơn so với lý thuyết tuyến tính dự
đoán," Amin Chabchoub từ Đại học Aalto ở Phần Lan cho biết. "Chắc chắn
phải có một cơ chế khác liên quan."
Trong hơn 20 năm vừa qua, những
nhà nghiên cứu như Chabchoub đã tìm cách giải thích vì sao những con sóng khổng
lồ ngày càng phổ biến hơn trước đây.
Thay vì tồn tại tuyến tính như
Longuet-Higgins từng lập luận, họ cho rằng các đợt sóng khổng lồ là do hệ thống
phi tuyến tính.
Phương trình phi tuyến tính cho
thấy một thay đổi trong kết quả không tương ứng với thay đổi ở dữ liệu đầu vào.
Nếu các con sóng tương tác theo
kiểu phi tuyến tính, người ta không thể tính toán chiều cao con sóng mới bằng
cách cộng dồn các con sóng ban đầu vào. Thay vào đó, một con sóng trong loạt
sóng có thể dâng cao rất nhanh từ những con sóng khác.
Khi các nhà vật lý muốn nghiên cứu
những hệ thống vi mô như nguyên tử thể hiện theo thời gian, họ thường dùng một
công cụ toán học gọi là phương trình Schrödinger.
Hóa ra với phiên bản phi tuyến
tính ngẫu nhiên của phương trình Schrödinger, người ta có thể dùng để giải
thích sự hình thành các con sóng khổng lồ. Ý tưởng cơ bản là, khi các con sóng
trở nên không ổn định, chúng có thể dâng cao rất nhanh bằng cách "đánh cướp"
năng lượng từ những con sóng khác.
Các nhà nghiên cứu cho thấy
phương trình phi tuyến tính của Schrödinger có thể giải thích vì sao những mô
hình thống kê của sóng đại dương có thể thình lình dâng lên đến đỉnh cao dữ dội,
qua phương thức tập trung năng lượng này.
Trong một nghiên cứu năm 2016,
Chabchoub áp dụng các mô hình này vào thực tế, những dữ liệu biển bất thường,
và nhận ra các con sóng khổng lồ có thể tiếp tục dâng cao.
"Giờ đây chúng ta có thể tạo
ra những con sóng khổng lồ rất thực trong môi trường phòng thí nghiệm, trong điều
kiện tương tự ngoài đại dương," Chabchoub cho biết. "Sử dụng tiêu chuẩn
thiết kế giàn khoan dầu và tàu bè dựa trên lý thuyết tuyến tính thật không tốt
nếu một hệ thống phi tuyến tính có thể tạo ra những đợt sóng khổng lồ mà chúng
không chịu nổi."
Tuy nhiên, không phải ai cũng tin
rằng Chabchoub đã tìm ra được lời giải thích.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét