Thứ Ba, 24 tháng 10, 2017

Nhất thể hóa: ngột ngạt và chông chênh tương lai nhân sự



”Cuộc thay đổi nhân sự “nhất thể hóa” lần này thực chất là hợp thức hóa quyền lực của Đảng. Nó diễn ra với nhiều lý do chính trị hơn tất cả những lần trước, trong đó lý do “tinh giảm bộ máy” vì quá tốn kém và gắn với cuộc chiến chống tham nhũng được ĐCSVN phát động được truyền thông đẩy mạnh nhất. Nhưng vấn đề tranh chấp Biển Đông với TQ đang ở mức có thể xảy ra đụng độ vũ trang bất cứ lúc nào mới chính là một trong những vấn đề dễ đe dọa vị trí quyền lực của ĐCSVN nhất hiện nay. 

Kịch bản gần như duy nhất là sẽ có một cuộc bầu bán theo kiểu bỏ phiếu tín nhiệm mà lợi thế nghiêng về phe nhóm chiếm nhiều quyền lực chi phối sẽ quyết định nhân sự kiêm nhiệm của “nhất thể hóa” tương lai. Tuy nhiên, chính giải pháp này cũng dẫn theo một hệ lụy khác là vũ khí “chống tham nhũng” bị phá sản hoàn toàn khi công cuộc nhất thể hóa được hợp thức bởi một phương án “dân chủ vì lợi ích”.



Hội nghị TW6 kết thúc, để lại một khoảng thời gian ngột ngạt bao trùm lên toàn bộ hệ thống chính trị của Việt Nam khi lộ rõ quan điểm cải cách hệ thống bộ máy chính trị được gọi là “nhất thể hóa” theo hướng Đảng kiêm nhiệm chính quyền. Điều đáng nói là trong dư luận nhiều chiều cả trong lẫn ngoài, cả tuyên truyền của nhà nước và từ phía phản biện không thân thiện với Đảng CSVN.. không thấy có ý kiến nào làm rõ được bản chất của vấn đề và đưa ra được phân tích hợp lý về những diễn biến và hệ lụy sau định hướng “cải cách” này.

Cải cách hay hợp thức?

Trước hết, cần phải xác định lại rõ điều ai cũng biết là tại Việt Nam, Đảng là cơ quan quyền lực điều hành chính quyền và là tổ chức quyết định cao nhất về bộ máy chính quyền nhà nước. Nó đồng nghĩa hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước Việt Nam từ sau 1945 tới nay vẫn do Đảng nắm giữ trên vai trò “nhiếp chính” lẫn ngai vàng của chế độ. Khái niệm “nhất thể hóa” thực chất là sắp xếp lại nhân sự chứ không mang khuynh hướng thay đổi về mặt chính trị. Nếu nhìn nhận phương án Đảng qua nắm chính quyền như một cuộc đấu tranh nắm giữ quyền lực thì phải phân biệt rõ như vậy để thấy rằng đây không phải là cải cách hay đổi mới và cũng không phải là lần thứ nhất chưa có tiền lệ.

Nhìn lại lịch sử, ĐCSVN ít nhất đã 3 lần sử dụng sức mạnh để nắm lấy quyền lực, bao gồm cả quyền lực chưa có và quyền lực bị chi phối. Lần thứ nhất là cuộc nổi dậy 1945, khai sinh ra chế độ nhà nước theo quan điểm chính trị của CNCS ở miền Bắc Việt Nam.

Năm 1945, ĐCSVN đã chiếm giữ và thiết lập quyền lực nhà nước từ tay Chính phủ của ông Trần Trọng Kim đúng ngày Chính phủ này tổ chức ra tuyên cáo chính thức. Sự xuất hiện của quân đội Nhật trong giai đoạn lịch sử đó đã dẫn đến việc tuyên truyền rằng Việt Minh cướp chính quyền từ tay quân xâm lược (Nhật – Pháp) và qui kết Chính phủ của ông Trần Trọng Kim là “bù nhìn” để che đi sự thật chính trị: Chính phủ Trần Trọng Kim là bộ máy nhà nước hợp pháp, vì đó là hệ thống quyền lực được lập ra từ thỏa thuận của bộ máy chế độ hợp pháp lúc đó là triều đình của Vua Bảo Đại với hai đế quốc đang tranh giành quyền lực tại Việt Nam là Pháp và Nhật. Ở đây, nhìn thẳng như vậy không đồng nghĩa với suy luận rằng chính quyền Việt Minh (ĐCSVN) sau 2/9/1945 là bất hợp pháp vì trong chính trị, khi một tổ chức nắm giữ quyền lực thực sự trên diện rộng, có tính phổ quát ở quốc gia và chi phối được trật tự xã hội thì đó là chính quyền đương nhiên được thừa nhận.

Sau 1945, ĐCSVN đã tiếp tục sử dụng sức mạnh lần thứ hai là cuộc bắt giữ lãnh đạo Quốc dân đảng (của Nguyễn Hải Thần) và Đại Việt cách mạng đảng ((Nguyễn Tường Tam) để thống nhất quyền lực hoàn toàn trong bộ máy hệ thống chính trị ở miền Bắc năm 1946. Lần thứ 3 chính là cuộc tiến công miền nam, kết thúc năm 1975 để thống nhất quyền lực trên cả nước cho tới nay. Cả 3 lần này, ĐCSVN đã chiếm giữ quyền lực bằng sức mạnh vũ lực – không bàn về chính nghĩa hay phi nghĩa. Việc bộ máy tuyên truyền và truyền thông trước đây dùng từ “cướp chính quyền” là chính xác tuyệt đối, khái niệm “giải phóng” được dùng sau này để chỉ cuộc thống nhất quyền lực ở miền Nam (1975) xét cho cùng chỉ thuần túy từ ý đồ tuyên truyền chính trị và do ý thức đơn giản cho rằng từ “cướp” không được hay ho mà thôi.

Nếu nhìn nhận cuộc “nhất thể hóa” sau HNTW 6 theo hướng Đảng nắm chính quyền là một cuộc “thay máu” bộ máy quyền lực thì có thể so sánh với một cuộc “thay máu” trước đây của nội bộ ĐCSVN là giải thể Đảng Xã hội Việt Nam năm 1988 - Một đảng thực chất cũng là tổ chức chính trị cộng sản, được ĐCSVN lúc đó lập ra để trang trí cho bức tranh “đa đảng” có vai trò giúp ĐCSVN ổn định xã hội thuận lợi hơn. Đảng Xã hội Việt Nam được ĐCSVN lập ra, bản chất, quyền lực và mục tiêu lẫn vai trò chính trị khác hẳn với các đảng đương thời tham gia chính trị ở các quốc gia theo CNCS lúc đó. Tuy nhiên, một tổ chức hình thành dù trên danh nghĩa nào thì qua thời gian chắc chắn cũng có những đối sách và quan điểm thay đổi nhất định. Các trụ cột của Đảng Xã hội là đại diện cho giới trí thức và trong thành phần lãnh đạo cao nhất khi thành lập cho đến thời điểm giải tán có một số lãnh đạo đang nắm giữ những vị trí quyền lực rất lớn trong bộ máy chính quyền như Hoàng Minh Giám; Võ Nguyên Giáp; Phan Anh... Trong đó tiêu biểu nhất là Võ Nguyên Giáp với vai trò UVBCT, thần tượng của quân đội Việt Nam. Đồng thời ông cũng là người thể hiện rất rõ thái độ cứng rắn với TQ trong cuộc chiến 1979 và cả cuộc chiến Gạc Ma nhưng đã bị BCT “bỏ qua”. Lý do giải thể Đảng Xã hội Việt Nam năm 1988 được lý giải và nghiêng nhiều theo hướng “Đảng Xã hội Việt Nam đã hoàn thành nhiệm vụ và hết vai trò trong hệ thống chính trị Việt Nam” chứ ít ai đặt vấn đề giải thể Đảng Xã hội VN xảy ra trong thời điểm tháng 7/1988 là lúc đang nổ ra các tranh luận gay gắt các quan điểm về vấn đề Trung Quốc sau cuộc chiến 1979 và bùng lên dữ dội sau khi TQ tấn công đẫm máu ở Gạc Ma (tháng 3/1988). Trong bộ máy Đảng lẫn chính quyền các cấp từ trung ương tới đia phương thời điểm náy có rất nhiểu xung đột đến gay gắt về thái độ và quan điểm đối với TQ, đây cũng là giai đoạn mà rất nhiều chỉ dấu cho thấy có sự tác động rõ ràng từ TQ lên hệ thống chính trị Việt Nam. Rất nhanh, chỉ 2 năm sau cuộc “ổn định quyền lực” này thì ĐCSVN đã bình thường hóa quan hệ Việt-Trung vào năm 1990 khi mùi tanh của máu và khói thuốc chiến tranh chưa hề giảm bớt trong tâm thức người Việt Nam.

Như vậy cuộc thay đổi nhân sự “nhất thể hóa” lần này thực chất là hợp thức hóa quyền lực của Đảng. Nó diễn ra với nhiều lý do chính trị hơn tất cả những lần trước, trong đó lý do “tinh giảm bộ máy” vì quá tốn kém, gắn với cuộc chiến chống tham nhũng được ĐCSVN phát động được truyền thông đẩy mạnh nhất. Nhưng xét về mục tiêu quyền lực chính trị thì vấn đề tranh chấp Biển Đông với TQ đang ở mức có thể xảy ra đụng độ vũ trang bất cứ lúc nào mới chính là một trong những vấn đề dễ đe dọa vị trí quyền lực của ĐCSVN hiện nay. Nếu xảy ra chiến tranh với TQ, chắc chắn VN sẽ thua vì ĐCSVN từ nhiều lý do không có được đồng minh đủ mạnh để thắng. Thua, hoặc lộ rõ việc đứng về phía TQ thì xung đột tư tưởng sẽ bùng phát trên diện rộng chưa từng có, đương nhiên ĐCSVN phải lãnh chịu trách nhiệm và sụp đổ là không tránh khỏi. Nếu giả sử ĐCSVN đã chắc chắn có một thỏa thuận ngầm nào đó để có một liên minh hiện còn bí mật đủ mạnh để khắc chế TQ hoặc giành được tư thế đủ gọi là “thắng” thì đương nhiên ĐCSVN quá thuận lợi để tiếp tục nắm giữ quyền lực vì chắc chắn ĐCSVN sẽ giành lại sự ủng hộ gần như tuyệt đối từ đa số người dân Việt Nam. Kể cả chấp nhận mở cửa tự do dân chủ và cạnh tranh đa đảng thì ĐCSVN vẫn chiếm lợi thế cao thừa đủ để chiến thắng trong một thời gian dài.

Trở lại với phương án nhất thể hóa mà ĐCSVN dự kiến triển khai sau HNTW 6. Không khí ngột ngạt đến mức gần như các lãnh đạo chính quyền từ trên xuống xuống dưới im bặt kể từ khi HN 6 kết thúc, về cơ bản là tâm lý lo lắng về sự nghiệp chính trị chở nên chông chênh, không có bất cứ cơ sở nào đảm bảo cho một phương án khả dĩ an toàn ở mức chấp nhận được đối với cả phe Đảng lẫn chính quyền đương nhiệm. Trong khi đó, hướng nhân sự Đảng qua nắm chính quyền sẽ đặt ra một hệ lụy không hề nhỏ từ dấu hỏi về năng lực quản lý của “phe Đảng” khi từ thuần túy lý luận, lý thuyết sang vai trò vừa quản lý, vừa điều hành ra sao?

Với bối cảnh vai trò thực sự không rõ ràng trong cơ cấu chính trị Việt Nam. Hầu hết các nhân sự lãnh đạo của bộ máy Đảng một thời gian dài chỉ tập trung trang bị các kiến thức, kinh nghiệm thuần túy về lý luận và quan điểm chính trị. Nói cách khác, phương án nhất thể hóa nhân sự Đảng qua nắm chính quyền nếu không sử dụng thành phần Đảng viên trong Chính quyền mà thuần túy lãnh đạo Đảng để thay đổi vị trí quyền lực chính trị triệt để thì hệ lụy về năng lực quản lý là không tránh khỏi vì giữa lý thuyết, lời nói tới thực tiễn luôn là một khoảng cách rất xa. Chưa nói đến thực chất, ngay cả về năng lực lý luận và tư tưởng chính trị của đa số các lãnh đạo Đảng cơ sở cũng có vấn đề do trào lưu bằng cấp đã xảy ra tràn lan trong một thời gian quá dài, băng hoại chất lượng tri thức thật sự không chỉ trong hệ thống chính quyền mà cả trong Đảng. Điều này chắc chắn các lãnh đạo Đảng ở cấp cao nhất, cụ thể là BCT TW ĐCSVN đương nhiên biết rõ, các nhân sự lãnh đạo Đảng ở cấp dưới cũng biết.

Nó chỉ ra khả năng lựa chọn nhân sự Đảng qua nắm chính quyền cũng không có gì đảm bảo cho các vị trí hiện tại đang lãnh đạo Đảng cấp cơ sở một sự chắc chắn. Kịch bản gần như duy nhất là sẽ có một cuộc bầu bán theo kiểu bỏ phiếu tín nhiệm mà lợi thế nghiêng về phe nhóm chiếm nhiều quyền lực chi phối sẽ quyết định nhân sự kiêm nhiệm của “nhất thể hóa” tương lai. Tuy nhiên, chính giải pháp này cũng dẫn theo một hệ lụy khác là khả năng vũ khí “chống tham nhũng” bị phá sản hoàn toàn khi công cuộc nhất thể hóa được hợp thức bởi một phương án “dân chủ vì lợi ích”.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét