Nhiều nhà quan sát nhận xét sự xoay trục sang Châu Á của Nga chủ yếu hướng tới Trung Quốc, dù trong dài hạn Bắc Kinh có thể là một mối đe dọa đối với những lợi ích của Moskva và trên thực tế Nga cũng chỉ được Trung Quốc coi là đối tác yếu hơn. Vậy trên thực tế cho tới năm 2017, vị thế của Nga tại châu Á như thế nào?
Ngoài các hiệu ứng truyền thông nhằm
vào phương Tây, cho đến nay Moskva vẫn đang vất vả tìm cách gắn sự phát triển
kinh tế của mình với châu Á dù coi trọng vị trí chiến lược của châu lục này. Có
rất nhiều trở ngại kìm hãm chính sách hướng Đông của Nga, trong số đó 2 vấn đề
nổi lên rõ ràng nhất là mối liên kết mạnh mẽ của nước này với châu Âu và sự phức
tạp về địa chiến lược của châu Á-Thái Bình Dương. Đồng thời với điều mà họ thường
lớn tiếng gọi là thiết lập một “trật tự thế giới hậu phương Tây”, Chính quyền
Nga gần đây không ngừng nhấn mạnh sự cần thiết phải xây dựng vị thế của đất nước
họ tại châu Á.
Đối với nhiều nhà quan sát nước ngoài, đó chỉ đơn giản là cách
mà Moskva thể hiện sau cuộc khủng hoảng quan hệ với các nước phương Tây: Nước
Nga “đe dọa xoay trục sang châu Á” để khiêu khích và gây lo ngại cho phương
Tây, vốn đang áp đặt lệnh trừng phạt và gạt nước này ra ngoài lề do hành động của
họ ở Ukraine. Nhiều nhà quan sát nhận xét sự “xoay trục” này chủ yếu hướng tới
Trung Quốc, dù trong dài hạn Bắc Kinh có thể là một mối đe dọa đối với những lợi
ích của Moskva và trên thực tế Nga cũng chỉ được Trung Quốc coi là đối tác yếu
hơn. Vậy trên thực tế cho tới năm 2017, vị thế của Nga tại châu Á như thế nào?
Khủng hoảng quan hệ với phương
Tây
Việc Nga chuyển hướng sang châu Á
chắc chắn có dấu ấn của sự xuống cấp trong quan hệ của nước này với Mỹ và châu
Âu, với những nguyên nhân có từ trước khi nổ ra cuộc khủng hoảng Ukraine, như
đã được chứng minh trong bài diễn văn cứng rắn của Vladimir Putin tại Hội nghị
an ninh Munich cách đây hơn 10 năm. Ngay từ những năm 1990, Nga đã bắt đầu tìm
gắn chính sách phát triển của mình trong việc thúc đẩy quan hệ với các đối tác
châu Á để chống lại xu hướng củng cố trật tự trong việc thúc đẩy đơn cực dưới sự
lãnh đạo (và bảo trợ) của Mỹ: quan hệ đối tác chiến lược với Trung Quốc, tam
giác chiến lược Nga-Ấn-Trung. Tiếp theo đó, và với sự nối tiếp mạch lạc hơn, đường
lối và chính sách đối ngoại của Nga phát huy tiềm năng của Tổ chức hơp tác Thượng
Hải (SCO) và nhóm BRICS. Thứ trưởng Bộ Phát triển kinh tế đồng thời là Chủ tịch
nhóm công tác của chính phủ về xúc tiến lợi ích của Nga tại châu Á-Thái Bình
Dương, Stanislav Voskresensky, đã nhấn mạnh rằng tại châu Á, Nga dễ tìm kiếm
các đối tác thực tế hơn, ít nói về “những giá trị và tập trung nhiều vào năng lực
cũng như các mối quan tâm cụ thể” – ám chỉ việc Nga bác bỏ xu hướng áp đặt mô
hình và đưa ra những bài học cho nước khác của phương Tây.
Việc Chính quyền Nga chú trọng
tái cân bằng chính sách đối ngoại sang châu Á diễn ra rõ ràng hơn sau khi các sự
kiện tại Ukraine nhấn chìm quan hệ Nga-phương Tây vào một cuộc khủng hoảng sâu
sắc, âm ỉ từ nhiều năm.
Ý tưởng “xoay trục” sang châu Á của
Moskva đã được khẳng định trong diễn văn của các quan chức và chuyên gia phân
tích của cả Nga và phương Tây. Bị phương Tây trừng phạt, bị khai trừ khỏi G7,
Nga khi đó rất cần chứng tỏ rằng họ không hề bị cô lập trên trường quốc tế. Thực
tế, đối với vấn đề Ukraine, nước này đã nhận được hoặc là sự ủng hộ, hoặc là im
lặng của một số đối tác châu Á quan trọng – Ấn Độ và Trung Quốc không tham gia
bỏ phiếu tại Đại hội đồng Liên hợp quốc về cuộc trưng cầu dân ý tổ chức ở
Crimea tháng 3/2014 (nghị quyết 68/262), còn Hàn Quốc, trái với Nhật Bản, đã
không áp đặt trừng phạt Nga. Moskva cũng đề cao tất cả các diễn đàn đa phương
liên quan đến hoạt động quốc tế mà theo họ ít bị ràng buộc bởi các chuẩn mực
hơn so với những tổ chức bị các cường quốc phương Tây chi phối, như Tổ chức hợp
tác Thượng Hải, từ đó thúc đẩy một trật tự thế giới mới ít chịu ảnh hưởng của
phương Tây. Theo tinh thần này, năm 2014 SCO đã mở rộng, kết nạp thêm Ấn Độ và
Pakistan, còn BRICS cũng quyết định thành lập các thể chế tài chính độc lập với
IMF và WB. Năm 2015, Nga và Trung Quốc loan báo tham vọng kết nối Liên minh
kinh tế Á-Âu (EAEU) với các tuyến đường thuộc sáng kiến Con đường tơ lụa mới.
Trên bình diện kinh tế, lệnh trừng phạt buộc Nga phải tìm kiếm sự bù đắp từ nơi
khác (thị trường, vốn, đầu tư và công nghệ). Nó đã thúc đẩy nước này đi theo
con đường đã bắt đầu từ những năm 2000 nhằm củng cố vị thế của mình trong không
gian “đại châu Á”, khu vực mà sự năng động kinh tế và chiến lược đã và đang thu
hút sự chú ý không kém của các cường quốc khác.
Những động lực khác của chính
sách tái cân bằng ngoại giao và kinh tế của Nga sang châu Á
Thực ra, khi Tổng thống Putin tuyên
bố trong thông điệp trước Quốc hội ngày 1/12/2016 rằng “chính sách hướng Đông
tích cực” của Moskva có động cơ không chỉ là những tính toán ngắn hạn – như cuộc
khủng hoảng quan hệ với Mỹ và Liên minh châu Âu – mà có cả “những lợi ích quốc
gia dài hạn và xu hướng phát triển toàn cầu”, ông đã không chỉ lặp lại một điệp
khúc bất di bất dịch nhằm nói với các đối tác phương Tây rằng nước Nga có thể sống
mà không cần có họ. Từ những năm 2000, nhà lãnh đạo Nga đã cho rằng trong số
các “lợi ích quốc gia dài hạn” có việc phát triển phần lãnh thổ ở châu Á. Điều
này đã được thể hiện qua việc thành lập Bộ Phát triển vùng Viễn Đông
(Minvostokrazvitiya, được thành lập từ đầu nhiệm kỳ thứ ba của Putin). Putin
cũng nhiều lần nhấn mạnh mong muốn thu hút đầu tư nước ngoài, nhất là châu Á, để
hỗ trợ sự phát triển của vùng Siberia và Viễn Đông.
Sự quan tâm tới vấn đề nói trên,
thường được các quan chức Nga coi là có ý nghĩa chiến lược, cho thấy dụng ý của
Moskva muốn tham gia một trong những “xu hướng phát triển quan trọng nhất của
toàn thế giới”, đó là xu hướng dịch chuyển sự phát triển kinh tế và chiến lược
năng động về phía châu Á. Theo ông Stanislav Voskresensky, việc “tăng cường thiết
thực mối quan hệ với các trung tâm tăng trưởng thế giới vì lợi ích của nền kinh
tế Nga và của các công dân Nga” đã trở nên quan trọng. Các trung tâm tăng trưởng
ở đây là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, ASEAN, chiếm gần 30% GDP toàn cầu. Một
quan chức Nga tóm lược rằng việc này là sử dụng “năng lương tăng trưởng tại
châu Á để phục vụ cho lợi ích của chúng ta, để đa dạng hóa nền kinh tế của
chúng ta”. Các mục tiêu của Kremlin xét về mặt này thường xuyên được chính phủ
đề cập tới: bảo đảm cho các sản phẩm và dịch vụ của Nga tiếp cận thị trường
châu Á-Thái Bình Dương, phát triển cơ sở hạ tầng cần thiết để khuyến khích sự
tiếp xúc của giới doanh nghiệp và đầu tư, cố gắng dỡ bỏ các hàng rào cản trở
lưu thông hàng hóa bằng cách ký kết các thỏa thuận thành lập khu vực thương mại
tự do,...
Các phương tiện mà Nga đã triển
khai để tổ chức Hội nghị thượng đỉnh APEC tại Vladivostok năm 2012 đã phát đi một
thông điệp mạnh mẽ về sự nghiêm túc trong định hướng này của họ, thể hiện những
bài học đã được giới lãnh đạo Nga rút ra từ cuộc khủng hoảng tài chính và kinh
tế toàn cầu năm 2008-2009: các đối tác châu Âu dường như đã gặp rất nhiều khó
khăn để hồi phục, nên Nga cần phải đa dạng hóa cơ hội để phát triển kinh tế.
Moskva chấp nhận rằng tiến triển
của chính sách hướng sang châu Á của Nga diễn ra chậm chạp. Một nguyên nhân
quan trọng là theo truyền thống, chính sách đối ngoại của Nga, kể cả liên quan
đến kinh tế, thường hướng sang không gian châu Âu-Đại Tây Dương. Điều đó đã tạo
ra lối mòn và gây khó khăn, một cách khách quan, cho chính sách tái cân bằng
sang châu Á, nơi mà Nga có hình ảnh tương đối nhạt nhòa và lộn xộn.
Giới tinh hoa và kỹ trị Nga đã
triển khai khá chậm, ít nhiều mang tính cố tình, “mong muốn châu Á” mà Putin
đưa ra. Các chuyên gia giải thích điều đó có nguyên nhân là Nga thiếu kinh nghiệm
về châu Á, và khiếm khuyết này đã trở nên trầm trọng hơn sau khi Liên Xô tan
rã. Về quan hệ kinh doanh, các nhà quan sát nhận định rằng những trở ngại chính
do chế độ quan liêu, sự lạc hậu của các cơ chế luật pháp và hành chính, thiếu
khả năng dự đoán thị trường trong dài hạn gây ra cũng khá nặng nề, chưa kể thực
trạng nền kinh tế yếu kém của Nga trong những năm gần đây không hấp dẫn các nước
châu Á.
Điện Kremlin dường như đã xác định
được những vấn đề này. Theo một thông lệ quen thuộc trong hệ thống quyền lực của
Nga, một nhân vật có ảnh hưởng sẽ được chỉ định nắm vai trò điều phối viên
chính cho chính sách châu Á. Người đó là Igor Shuvalov, Phó Thủ tướng thứ nhất,
người từ trước năm 2014 đã chủ trì nhiều ủy ban liên chính phủ với Nhật Bản,
Singapore, Việt Nam, vốn là những đối tác thương mại quan trọng của Nga tại
châu Á. Ông cũng là đồng chủ tịch một ủy ban liên chính phủ mới giữa Nga và
Trung Quốc về các dự án đầu tư ưu tiên. Một trong những thuộc cấp cũ của ông là
Thứ trưởng Bộ Phát triển kinh tế Stanislav Voskressensky, người đã lãnh đạo
nhóm công tác về xúc tiến các lợi ích kinh tế của Nga tại châu Á-Thái Bình
Dương từ tháng 8/2014. Theo một số nhà phân tích, sự tham gia trực tiếp của các
quan chức hàng đầu kích thích sự ganh đua và gieo rắc sự hỗn loạn, nhưng nó
cũng cho thấy tầm quan trọng của vấn đề này đối với cấp cao nhất của nhà nước.
Một nhân vật thân cận với Putin, Gennady Timchenko (đang bị phương Tây áp đặt lệnh
trừng phạt), đã được trao chức chủ tịch Hội đồng thương mại Nga-Trung năm 2014,
một trong những dấu hiệu cho thấy tầm quan trọng ngày càng cao của Trung Quốc
trong những tính toán và chính sách của Nga.
Chính sách xoay trục của Nga
không chỉ tập trung vào Trung Quốc?
Không phải không có căn cứ khi
nhiều nhà quan sát lưu ý rằng chính sách xoay trục của Nga sang châu Á dường
như chỉ tập trung xích lại gần với Trung Quốc. Trên thực tế, cuộc khủng hoảng
Ukraine đã thắt chặt quan hệ giữa 2 nước, nhưng nó đồng thời cũng gây khó khăn
cho việc Nga quay sang châu Á vì quan hệ Nga-Trung thân mật gây lo ngại cho những
nước có tranh chấp với Bắc Kinh. Nhưng nỗ lực can dự vào châu Á của Nga cũng bị
tác động bởi việc từ những năm 2000 Moskva đã không muốn bị hút vào và phụ thuộc
quá mức vào Trung Quốc. Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, quan hệ song phương
giữa 2 nước đã thay đổi theo chiều hướng hoàn toàn bất lợi cho Nga. Năm 2014,
Nga và Trung Quốc đã ký kết các thỏa thuận lớn trong lĩnh vực năng lượng, vốn
được đàm phán từ rất lâu nhưng với những điều kiện ít thuận lợi hơn so với tính
toán từ trước của Moskva. Nga cũng buộc phải chấp nhận bán cho Trung Quốc các
công nghệ quân sự mà họ không hề muốn (SU-35, S-400). Tại Biển Đông, Nga cũng
phải từ bỏ thái độ thận trọng thường thấy, tham gia các cuộc tập trận với hải
quân Trung Quốc năm 2016 và ủng hộ Bắc Kinh bác bỏ phán quyết của Tòa Trọng tài
tại La Hay.
Tuyên bố của Chủ tịch Tập Cận
Bình vào tháng 5/2015 về mong muốn 2 nước kết nối EAEU (gồm một số nước thuộc
Liên Xô trước đây là Nga, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Armenia, Belarus) với Con đường
tơ lụa mới đã gây bất ngờ cho cộng đồng quốc tế. Trước đó ít lâu, Nga đã thể hiện
mối quan ngại công khai đối với các dự án cơ sở hạ tầng do Trung Quốc xây dựng
tại khu vực Á-Âu, cho rằng chúng gây ra những tác động địa chính trị lớn đối với
khu vực Trung Á, vốn là một phần của không gian hậu Xôviết mà tại đó Nga từ trước
đến nay vẫn chống lại bất cứ ảnh hưởng nào của các cường quốc bên ngoài. Những
diễn biến này gợi lên nhiều câu hỏi trong giới nghiên cứu về khả năng Nga duy
trì được sự độc lập của mình trong những điều kiện như vậy.
Quá trình hai bên xích lại gần
nhau đã được ghi nhận từ năm 2014, sức nặng gia tăng của Bắc Kinh trong chính
sách châu Á của Moskva được thể hiện qua nhiều biến số. Trước hết, đó là kết quả
của lựa chọn chiến lược mà Nga đã đưa ra trong những năm 1990: Trong chính sách
đối ngoại, Nga từ bỏ việc theo đuổi nhiều ưu tiên cùng một lúc, mà tập trung
nhiều hơn vào châu Á; cải thiện và sau đó là phát triển quan hệ với Trung Quốc,
cường quốc mới về kinh tế, tài chính của thế giới. Nước Nga đã muốn tìm kiếm đối
tác kinh tế và tài chính phải quan tâm tới điều này. Các nước khác, như Nhật Bản,
Hàn Quốc, cũng được giới lãnh đạo Điện Kremlin coi là đối tác quan trọng tiềm
tàng, nhất là trong lĩnh vực kinh tế, do những nước này có khả năng chuyển giao
vốn và công nghệ, hay giúp Nga đa dạng hóa quan hệ chiến lược tại châu Á. Về phần
mình, 2 nước trên cũng muốn tranh thủ Nga để đối trọng với Trung Quốc hoặc đóng
góp tích cực hơn vào tiến trình ngoại giao giải quyết vấn đề hạt nhân Triều
Tiên. Nhật Bản đã có nhiều nỗ lực để gia tăng động lực cho quan hệ với Nga,
trong đó có các dự án chung trên quần đảo Kurin/Vùng lãnh thổ phương Bắc, bất
chấp việc Nga gần đây tăng cường sự hiện diện quân sự tại vùng đất tranh chấp
này. Tuy vậy, hạn chế của các mối quan hệ đó nằm ở quan hệ an ninh giữa 2 nước
này với Mỹ, cho nên Moskva, vốn vẫn tiếp tục chờ đợi diện mạo chính sách mới của
Chính quyền Trump trở nên rõ ràng hơn, tiếp tục giữ thái độ thận trọng, chưa muốn
mở rộng quan hệ. Xét về góc độ này, việc Mỹ triển khai lá chắn chống tên lửa tại
Hàn Quốc và Nhật Bản vẫn là điểm gây bất đồng lớn.
Ở phương Tây, một số nhà quan sát
cho rằng mối quan hệ Nga-Trung ngày càng sâu sắc có thể đe dọa thế giới phương
Tây, do nó hình thành nên một trục thù địch. Một số khác nhận định trong mô
hình này, Nga sẽ bị đẩy xuống thành đối tác thứ yếu. Moskva nhận thức được điều
này. Thế nhưng sự hồi phục của cỗ máy quân sự và tầm quan trọng của Nga trên
trường quốc tế, sự năng động trong ngoại giao ở Trung Đông và ở những nơi khác,
đã phần nào trấn an nước này trước sự năng động về kinh tế và chiến lược của Bắc
Kinh, trong bối cảnh Trung Quốc đang tái định hình mô hình kinh tế và dường như
cũng quyết tâm tập trung sức mạnh chiến lược vào các vấn đề của khu vực châu
Á-Thái Bình Dương.
Ngược lại, quan hệ Nga-Trung được
củng cố cũng có thể góp phần hạn chế ảnh hưởng của Nga tại “Đại châu Á”. Một số
nhà phân tích Nga cho rằng phần lớn các nước ASEAN đã phản ứng một cách lo ngại
về việc Nga ủng hộ lập trường của Trung Quốc đối với phán quyết của Tòa Trọng
tài về Biển Đông, và đã kêu gọi Nga nên giữ thái độ cảnh giác với chủ đề này.
Trong một nghiên cứu mới đây, Timofei Bordachev, giám đốc dự án của Valdai
Fondation, cho rằng: “Trong tương lai, Nga cần có cách tiếp cận cân bằng hơn và
chú ý tới các tác nhân khu vực vừa và nhỏ. Cho tới nay Nga vẫn theo đuổi đường
lối cân bằng để không ảnh hưởng tới bất cứ đối tác nào. Chẳng hạn, Nga là nước
cung cấp vũ khí chính cho Việt Nam, cũng là nước mà họ có các chương trình hợp
tác trong lĩnh vực năng lượng. Đề xuất chung của Nga với Trung Quốc về một cơ cấu
an ninh tại châu Á có thể phản ánh nỗ lực của 2 nước nhằm khẳng định mình là
nhân tố gây ổn định. Nhưng Nga cũng phải thuyết phục được các nước về giá trị
chiến lược của mình đối với khu vực, nhất là trong bối cảnh Trung Quốc tiếp tục
chính sách quyết đoán. Trong tình huống nào đi nữa, khả năng duy trì một chính
sách độc lập, tự chủ chiến lược tại châu Á của Moskva là một biến số then chốt
mà các nước châu Á khác theo dõi sát”.
Can dự thực sự vào châu Á, nhưng
chậm và từng bước
Sự dịch chuyển sang châu Á, diễn
ra một cách nghiêm túc do ý chí của Tổng thống Putin, đã tạo ra một số kết quả.
Năm 2010, Trung Quốc đã thay thế Đức để trở thành đối tác thương mại lớn nhất của
Nga. Trao đổi thương mại của Nga với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước
ASEAN đã gia tăng, đạt gần 170 tỷ USD năm 2015. Theo Chiến lược năng lượng đến
năm 2030 của Chính phủ Nga, tiến trình đa dạng hóa thị trường xuất khẩu khí đốt
đã bắt đầu diễn ra. Năm 2016, đầu tư của Nga vào Việt Nam tăng 186%, vào Ấn Độ
tăng hơn 300%. Cuộc khủng hoảng Ukraine đã gây khó khăn cho dự án xây dựng
Không gian kinh tế Á-Âu, phỏng theo mô hình của EAEU, một chương trình nghị sự
đối ngoại đã được huy động hết mức trong nhiệm kỳ tổng thống thứ 3 của Putin.
Điện Kremlin có vẻ như đang cố gắng để tìm cách thúc đẩy chính sách hướng Đông,
với những kế hoạch cụ thể: kết nối EAEU với các tuyến đường trong dự án Con đường
tơ lụa mới của Trung Quốc, khu vực thương mại tự do Việt Nam-EAEU (2015), xem
xét khả năng lôi kéo Pakistan, Ấn Độ, Iran vào EAEU, đề xuất thiết lập một thỏa
thuận thương mại tự do ASEAN-EAEU (Hội nghị thượng đỉnh ASEAN-Nga đã diễn ra tại
Sochi năm 2016).
Các tiến triển đó diễn ra khá chậm
và sẽ tiếp tục chậm như vậy trong những năm tới, ngoại trừ trong quan hệ với
Trung Quốc. Trọng lượng của “quan hệ đối tác chiến lược” Trung-Nga cũng làm phức
tạp sự phát triển quan hệ giữa Moskva với các nước châu Á khác. Tuy vậy, khó
khăn lớn nhất của Chính phủ Nga trong việc kích thích sự phát triển của các
vùng lãnh thổ của Nga tại châu Á lại nằm ở chỗ khác. Mối quan ngại của cùng các
cường quốc khu vực trước chính sách bất định của Mỹ tại châu Á – dưới thời
Obama cũng như dưới thời Trump, với những lý do khác nhau – đã làm cho một số
nước quan tâm tới những đóng góp chiến lược của Moskva. Nhưng không gian vận động
của Nga tương đối hạn chế cả do nước này từ lâu đã vắng bóng trong thế cờ địa
chính trị khu vực rất năng động. Đầu tư của Nga vào lĩnh vực này cũng diễn ra một
cách thận trọng và có chừng mực, đồng thời Nga vẫn không có cảm giác họ gắn bó
với châu Á chặt chẽ hơn trước đây. Bản sắc, cũng như lợi ích kinh tế và quan ngại
chiến lược, vẫn gắn liền Nga với thế giới châu Âu-Đại Tây Dương, nơi vẫn hấp thụ
một phần lớn năng lượng ngoại giao của họ.
Khái niệm xoay trục gợi lên một
giả thuyết về sự thay đổi cơ bản định hướng địa chính trị và tầm vóc chiến lược.
Xét theo nghĩa này thì Nga chưa “xoay trục”. Các quan chức Nga, như Stanislav
Voskresensky, không ngần ngại tuyên bố “không có bất cứ sự xoay trục nào sang
phía Đông”. Thế nhưng, phủ nhận việc Nga muốn can dự mạnh mẽ hơn vào khu vực “đại
châu Á”, một diễn biến bền bỉ và thực tế, sẽ là một thiếu sót chiến lược nếu
xét đến những tác động rất đa dạng – cả tích cực và tiêu cực – mà nó có thể gây
ra cho châu Âu.
Isabelle Facon, nghiên cứu viên cấp
cao Quỹ Nghiên cứu Chiến lược (Pháp), chuyên gia về chính sách an ninh và quốc
phòng Nga. Bài viết được đăng trên Tạp chí Ngoại giao của Pháp.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét