Thứ Tư, 10 tháng 4, 2019

7552 - Chuyện giun sán (kỳ 2)


Như đã biên trong bài trước, trẻ con ở miền Bắc, nhất là đám sống vùng nông thôn, thời hợp tác xã nông nghiệp, rồi những năm chiến tranh và bao cấp, chả mấy đứa thoát khỏi “nạn” giun sán. Điều kiện vật chất khổ sở thiếu thốn như thế, ăn uống lại không hợp vệ sinh, tránh đằng trời cũng không thoát khỏi bọn ký sinh trùng này. Bệnh giun sán phổ cập, đại trà tới mức không biết sợ nữa, mà cũng chẳng kinh, giống như “sống chung với lũ” bây giờ vậy. 

Thời ấy có câu thành ngữ “bụng ỏng đít beo”. Đại loại đứa nào cái bụng to tròn nhưng người xanh như tàu lá quắt queo, nhất là cái mông (đít beo, đáng nhẽ phải nói là đít teo mới chính xác), không cần dắt tới bác sĩ, ai cũng biết nó bị giun hành. Người lớn, rồi nhà trường, các thầy cô giáo đều luôn nhắc nhở, dạy bọn trẻ phải ăn chín uống sôi, phải sạch sẽ nhưng chả mấy đứa thực hiện được. Khi đói là căn bệnh kinh niên thì giun sán chẳng là cái đinh gì. 



Tôi lại nhớ bài học hồi lớp 1. Sau thời gian hơn 1 năm mài ghế 2 lớp vỡ lòng và tập chép thì thằng bé con như tôi cũng như biết bao đứa cùng độ tuổi lên 6 được “tuyển thẳng” vào lớp 1. Đã đọc thông viết thạo cả rồi, sách tập đọc (hồi ấy người ta gọi sách giáo khoa lớp 1, lớp 2 như vậy) có những bài tương đối dài, không như sách Tiếng Việt của các cháu lớp 1 hệ 12 năm bây giờ chỉ dạy đánh vần. Có một bài rất khó quên, đại loại “Mẹ đi chợ về mua cho anh em Tý hai cái bắp ngô luộc. Em định ăn ngay. Tý thấy vậy bảo chúng ta đi rửa tay rồi hãy ăn, nếu không vi trùng theo đồ ăn vào miệng sinh ra nhiều bệnh tật”. Trong bài chả có chữ giun sán nào nhưng hình vẽ kèm theo thì có những con giun con sán trông rất khiếp. Sách học hồi xưa có những bài dạy về luân lý, đạo đức, lối sống, vệ sinh, cách ăn ở, v.v… rất giản dị mà thấm. 



Cũng cần nói thêm, thế hệ sinh ra những năm nửa cuối thập niên 50 đến vài chục năm về sau đều biết cu Tý. Nó là nhân vật chính trong sách vỡ lòng, lớp 1, lớp 2. Tý đi xem xiếc, xiếc làm trò tài quá, có chị vừa phi ngựa vừa gảy đàn. Bố Tý làm công nhân/Ở bến tàu khuân vác/Vừa làm lại vừa hát/trong buổi sáng mùa xuân. Chú Kim đua xe đạp, chú đạp giỏi quá, Tý hoan hô chú Kim. Lứa học trò xưa, hình như đứa nào cũng tìm thấy bóng dáng mình trong thằng cu Tý hiền lành chất phác dễ thương. 



Cũng nhân chuyện cu Tý khuyên em rửa tay sạch hãy ăn quà, chợt nhớ về một thời thật khó quên với bọn trẻ nghèo. Những bà mẹ đi chợ, khi về thường mua quà cho con. Còn con ở nhà, cứ đứng lên ngồi xuống mong ngóng mẹ về, thực ra ngóng mẹ thì ít mà ngóng quà thì nhiều. Quà thường chả phải thứ bánh trái đắt đỏ gì, có khi chỉ là đẵn mía, gói củ ấu, củ sắn luộc, củ đậu, bắp ngô, quả chuối, con tò he nặn bằng bột xanh đỏ, thậm chí quả dưa chuột. Sang lắm thì có đôi lúc được cái bánh phong (giống như bánh in ở miền Nam), vài chiếc kẹo bột. Thế thôi nhưng quý lắm. Hằng ngày chỉ trần sì hai bữa cơm, không có khái niệm ăn điểm tâm (sáng) hoặc lót dạ (tối). Quà mẹ mua từ chợ chính là sự bổ sung khẩu phần calo cần thiết cho những đứa trẻ luôn thèm thuồng mọi thứ. Hôm nào bu đi chợ, tôi cảm thấy sao buổi sáng dài thế, chốc chốc lại ngó coi bóng nắng trên sân, dòm lên con đường từ huyện về xem bu đi tới đâu rồi. Cái câu người ta thường quen miệng “ngóng như ngóng mẹ về chợ” đã ghi lại hình ảnh, dấu ấn của một chặng đường xã hội chưa xa, bây giờ nói ra bọn trẻ phần lớn không hình dung được, có lẽ sau này chỉ còn trong từ điển. 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét