Thành phố Hồ Chí Minh (ảnh Jetstar)
Kinh tế Việt Nam có vẻ lại có thêm một năm với những kết quả “thần kỳ”. Điều này không chỉ thể hiện trong các dự báo của chính phủ. Theo Bloomberg, giới quan sát kinh tế độc lập nhận thấy trong quý 3, tổng tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế Việt Nam đã lên đến 7%. Điều này khiến cho các tổ chức dự báo nhìn nhận rằng tăng trưởng sẽ còn khả quan hơn nữa. Citigroup điều chỉnh tỷ lệ tăng trưởng từ 6,7% lên 6,9% cho cả năm, và các nhà phân tích thuộc Maybank Kim Eng Research khẳng định 7% tăng trưởng cho nền kinh tế Việt Nam là hoàn toàn khả dĩ.
Hiển nhiên, họ cũng nhận thấy rằng nguồn gốc tăng trưởng này chủ yếu được hình thành trong bối cảnh các nền kinh tế lớn đang kèn cựa lẫn nhau qua căng thẳng ngoại thương giữa Hoa Kỳ – Trung Quốc hay giữa Nhật Bản – Hàn Quốc, và Việt Nam trở thành điểm đến đầu tư hấp dẫn hơn để tránh né những nghĩa vụ thuế quan mà các cuộc thương chiến dựng nên. Đặc biệt, các ngành sản xuất công nghiệp và xuất khẩu đã tăng đến 7,31%, tỷ lệ cao nhất tính từ đầu năm ngoái, và sẽ là động lực cho sự phát triển của Việt Nam ít nhất đến nửa đầu năm 2020.
Chưa bàn đến các vấn đề chính trị – pháp lý xa xôi, hiện thực trên rõ ràng là một điều tốt cho người dân Việt Nam.
Hiểu đơn giản, nền kinh tế tăng trưởng đồng nghĩa với việc nguồn tiền lưu thông trong xã hội nhiều hơn, công ăn việc làm được tạo ra nhiều hơn, và từ đó túi tiền của người Việt Nam dày hơn chút đỉnh, giúp chúng ta có thể thụ hưởng một số thành quả ngắn hạn của việc phát triển kinh tế. Người Việt đang có thể ăn ngon hơn, sở hữu những loại hàng công nghệ đắt đỏ mới ra lò, thậm chí dư dả và sẵn sàng cho những khóa học, những chuyến chu du ở nước ngoài. Không có gì là lạ khi nhiều người (trong đó có thể có cả người viết) cho rằng tài giỏi và có năng lực kiếm tiền là đủ để khiến chúng ta có một cuộc sống hạnh phúc, mạnh khỏe ở đất nước này.
Song cũng tại Việt Nam, liệu chúng ta có đang thật sự phát triển hay không?
Tôi đã tự hỏi câu hỏi này suốt 13 năm sống tại thành phố Hồ Chí Minh.
13 năm, vấn nạn ngập chưa bao giờ được giải quyết; dù chúng tôi từng được hứa hẹn rằng chịu đựng những lô cốt dựng nên khắp thành phố đầu những năm 2000 sẽ giải quyết triệt để vấn nạn này.
13 năm, học phí tại các cơ sở đào tạo công lập mọi cấp độ đua nhau dùng giá “thị trường” với lý do bảo đảm chất lượng.
13 năm của những bản quy hoạch lộn xộn, của những khu đất mới mở ra chỉ để phân lô bán nền, của sự vắng bóng các mảng xanh cho không gian thành phố.
13 năm của sự đình trệ phát triển hệ thống giao thông công cộng.
13 năm của những tỉnh lộ đi ra các thành phố vệ tinh chưa bao giờ thoát khỏi hình bóng của những con đường làng.
13 năm, tôi cũng không biết liệu người dân ở đây có tính lại họ đang thật sự sử dụng được bao nhiêu mét vuông làm không gian sống, khi mà theo quy định hiện hành, con số tối thiểu làm không gian sống cho một cá nhân ở thành phố này chỉ là 16m2 (một căn phòng 4×4) tại các quận trung tâm, và chỉ 8m2 (4×2) ở các huyện và quận vùng ven. Người thuê nhà ở, đất ở cũng chỉ được quy định vỏn vẹn 5m2 (tức chỉ vừa hơn 2×2).
Năm 2018, tôi quyết định rời khỏi quận trung tâm tại thành phố để sinh sống một cách thanh bình hơn tại một vùng ngoại ô của tỉnh lân cận, song cũng nhanh chóng nhận ra rằng nó không làm cuộc sống của mình dễ thở hơn, khi các trở ngại hạ tầng khiến việc di chuyển vào nơi làm việc của mình như một cơn ác mộng không hơn không kém.
Nhiều người sẽ bảo rằng, dân số cao, lượng người nhập cư đông đảo, phương tiện đi lại nhiều đương nhiên dẫn đến các hiện tượng như ùn tắc giao thông, thiếu trường học, thiếu bệnh viện, thiếu các công trình công cộng, ô nhiễm môi trường, tăng giá bất động sản, v.v.
Nhưng quốc gia nào trên thế giới mà các đô thị lớn lại không thu hút một lượng dân cư lớn trên toàn quốc đổ về?
Tôi từng học tập và làm việc tại London trong hai năm, một trong những thành phố lớn nhất châu Âu với dân số hơn chín triệu người. Song chưa bao giờ tôi có cảm giác rằng London thật sự có chín triệu người. Người dân vẫn có thể thư thả hít thở bầu không khí trong lành của những công viên nhỏ xen lẫn trong các khu dân cư được quy hoạch bài bản, hệ thống giao thông công cộng với nhiều lựa chọn, và đương nhiên là sự thanh thản kỳ lạ tôi chưa từng có khi sống tại Việt Nam.
Hay trong thời gian ngắn công tác tại Đài Loan, một quốc gia có đường hướng lịch sử và xu thế phát triển rất giống với Việt Nam, tôi cũng nhận ra gần ba triệu người sinh sống tại thành phố 271 km vuông Đài Bắc có cuộc sống an nhàn và thanh thản hơn thành phố lớn nhất Việt Nam rất nhiều (trong khi thành phố Hồ Chí Minh có chín triệu người nhưng diện tích lại gấp Đài Bắc tới gần tám lần, với 2.100 km vuông).
Vậy khi mà các dịch vụ căn bản như y tế và giáo dục cho công dân bị tư hữu hóa, khi mà người dân gần như không hưởng lợi được gì từ quá trình tái đầu tư và các dự án hạ tầng công cộng, thành quả của hàng chục năm tăng trưởng hàng đầu thế giới của Việt Nam đã đi về đâu?

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét