Tưởng niệm các nạn nhân khủng bố ở London. (Hình: Getty
Images)
Ba ngọn đènTối 23 Tháng Ba, một ngày sau khi lại một cuộc tấn
công khủng bố nữa xảy ra ở Luân Ðôn, ở quảng trường Trafalgar, trên bậc thang
cao nhất của cầu thang rộng rãi dẫn vào Phòng Triển Lãm Tranh Quốc Gia – The
National Gallery, ba ngọn nến đã được thắp lên tiêu biểu cho ba người đã là nạn
nhân của một hành động điên cuồng của một cá nhân.
Trong quảng trường rộng rãi nhiều trăm người tụ tập, tay cầm
bông, tay cầm đèn, họ mang diện mạo của Luân Ðôn. Từ một thanh niên mà giọng
nói cho thấy rõ là dân Luân Ðôn, tay cầm bó bông daffodils, bông hoa biểu tượng
cho một mùa Xuân vẫn chưa tới, đến một cô sinh viên ở tỉnh về Luân Ðôn tìm hiểu
thủ đô, đến bà đại sứ Pháp ở triều đình St. James, đến Ðô Trưởng Sadig Khan, tất
cả tìm đến quảng trường lớn nhất của thủ đô để không những dành một phút tưởng
nhớ những người đã là nạn nhân nhưng mà còn để khẳng định như lời của ông đô
trưởng rằng sẽ “không cho phép khủng bố chia rẽ Luân Ðôn, phá hoại lối sống của
chúng ta.”
Dọc theo cầu thang, đèn cầy được để sẵn cho mọi người đến thắp.
Trên đỉnh cầu thang, đài tưởng niệm tạm thời với ba ngọn đèn là nơi mọi người đến
nghiêng mình. Họ nhớ đến cảnh sát viên Keith Palmer, một cảnh sát viên không vũ
trang thuộc Ðội Cảnh Sát Bảo Vệ Quốc Hội và Yếu Nhân. Ông Palmer là tiêu biểu
cho cảnh sát ở Anh và nhất là cảnh sát Luân Ðôn. Không vũ trang, đối với người
dân Luân Ðôn, họ là anh Bobby thân thiện, là người bạn dân chân chính mà người
dân chạy tới tìm sự giúp đỡ thay vì lẩn tránh ngán sợ. Hình ảnh ông dang tay ra
chạy tới tìm cách chặn kẻ đột nhập vào khuôn viên của tòa nhà Quốc Hội cổ kính
tiêu biểu cho một thái độ tự tin và can đảm mà có lẽ người ngoài thấy khó hiểu.
Ông tự tin vì ông đại diện cho pháp luật trong một quốc gia trọng pháp. Không
bao giờ vũ trang, ông có lẽ không nghĩ vũ khí là một điều cần thiết cho một
nhân viên cảnh sát. Nhưng ông cũng vô cùng can đảm vì ông thấy người đang xông
tới mình vũ trang. Ông chọn đứng ra chặn hung thủ vì ông coi đó là nhiệm vụ của
mình, nhiệm vụ bảo vệ của một người cảnh sát.
Họ cũng đến thắp một ngọn đèn để tưởng nhớ đến ông Kurt
Cochran đến từ Utah. Ông đến Luân Ðôn cùng bà vợ Melissa để kỷ niệm ngân hôn của
hai ông bà. Họ đến Luân Ðôn để thăm bố mẹ bà Melissa, đang sống ở Luân Ðôn làm
việc cho Giáo Hội Mormon. Một lời cầu nguyện cũng được thì thầm cho bà Melissa,
đang nằm bệnh viện.
Họ cũng đến để thắp một ngọn đèn cho bà Aysha Frade, một
nhân viên của một trường học ngay gần Cầu Westminster. Bà Frade là một công dân
Anh có mẹ là người Tây Ban Nha. Bà sống ở Luân Ðôn cùng với chồng và hai con.
Và cũng như các công dân khác của Luân Ðôn, bà Frade mang nhiều dòng máu. Cha
bà người gốc đảo Chypre. Bà Patricia Scotland, hàng xóm của gia đình trong 40
năm, một người Anh gốc Carribe nức nở nhớ đến bà Frade là “một bà mẹ, một người
vợ vô cùng dễ thương.” Ở Tây Ban Nha, xóm làng nhớ đến bà từ khi còn nhỏ đến lớn
lên, Hè nào cũng về chơi, không quên nắng ấm quê mẹ.
Trong bóng đêm đang đổ xuống quảng trường, tiếng chuông của
ngôi nhà thờ cổ kính St. Martin’s in the Fields vang lên, đám đông im lặng,
ngưng một phút để nhớ lại chuyện hôm trước, một phút mặc niệm cho người đã khuất.
Một số giơ máy lên quay phim, chụp hình, một số nhìn quanh, nhưng tất cả đều
chú mục vào ba ngọn đèn trên bậc thềm nơi mà các dân biểu, đại diện các tôn
giáo và những người dân bình thường đang sắp hàng chờ lên nghiêng mình.
Xung quanh quảng trường cảnh sát đứng canh. Tiếng trực thăng
cảnh sát văng vẳng từ trên cao. Nhưng đây vẫn là Luân Ðôn. Ngoài một số cảnh
sát viên nhỏ có vũ trang, đại đa số các cảnh sát đứng quanh quảng trường không
vũ trang. Rất nhiều người dân đến hỏi các ông bà cảnh sát này, “Could I hug you?
Cho tôi ôm bạn được không?” và họ đã ôm nhau, như những người bạn thân, sau một
cơn hoạn nạn chung.
Luân Ðôn không phải hoàn toàn thánh thiện. Luân Ðôn cũng có
hận thù. Trong những ngày sau Brexit, đã có những xấu xa xảy ra. Tôi còn nhớ
thái độ khiếm nhã của mấy đứa trẻ hàng xóm nhưng cũng lại có những người hàng
xóm khác tìm đủ mọi cách để chứng tỏ là tình xóm giềng quan trọng hơn là chính
trị nhất thời.
Và nói chung, Luân Ðôn là một thành phố ít hận thù. Ngay khi
cuộc tấn công mà bà thủ tướng đã diễn tả rất đúng là do “một tên khủng bố đến một
nơi mà tất cả những người từ mọi quốc gia và văn hóa tụ tập để chào đón thế nào
là được tự do, và người đó đã đổ sự tức giận bất kể đối với những người đàn
ông, đàn bà và trẻ em vô tội,” đã có những người cực đoan tìm cách lợi dụng sự
tức giận để khuấy động hận thù. Từ ông Nigel Farage kêu gọi thánh chiến chống
người Hồi giáo đến ông Donald Trump Jr chỉ trích Ðô Trưởng Sadig Khan, không
thiếu những thông điệp khiêu khích được tung ra. Ấy vậy như không hiểu tại sao
những thông điệp đó không được chào đón. Ngay cả khi trào lưu quá khích đang
lan tràn, có một cái gì đó về Luân Ðôn, không phải chỉ cái thái độ bình thường
của dân Ăng-lê “Keep calm and carry on – Bình tĩnh và tiếp tục,” nhưng là một mảnh
đất có khả năng chống lại các cú shock, một không khí đa dạng bác bỏ mọi luận
điệu quá khích đơn giản.
Mà không phải là vì Luân Ðôn là một thành phố đa dạng và bền
bỉ, mà là vì nó rất phức tạp. Khi chúng tôi dọn đến Luân Ðôn cách đây hơn hai
thập niên, có thể xóm giềng không niềm nở như ở Melbourne nhưng họ cũng rất
thân thiện và tử tế. Một bà cụ hàng xóm chặn tôi lại để bảo, “Con bé nhà bà hôm
nay về nhà sớm quá, bà hỏi nó xem có chuyện gì không?” Hôm sau, khi tôi gặp lại
và bảo cho cụ biết là cháu được về sớm vì cô phải đi họp, bà cụ mừng rỡ bảo, “Vậy
thì tốt quá. Tôi sợ trẻ con bây giờ dễ hư hỏng lắm.” Từ đó chúng tôi trở thành
hàng xóm. Dân Anh có bản tính không thích bộc lộ nhưng rất tế nhị và tốt bụng.
Ông cụ ngay kế bên đã hốt hoảng hỏi chúng tôi cụ nghe nói Thế Giới Vụ bị cắt tiền
liệu chúng tôi có bị mất việc không!
Thành phố cổ kính này tích tụ bao nhiêu lớp qua thời gian, tất
cả lịch sử, sự bao dung nho nhỏ lẫn nhau, sống chật chội sát nách nhau và việc
chen chân trên các phương tiện chuyên chở công cộng làm cho người ta vừa chào
đón nhau vừa dè dặt.
Luân Ðôn quả thật rất chật hẹp, nhất là ở khu trung tâm
thành phố, nhưng ai đã từng leo lên xe điện ngầm vào giờ cao điểm đều biết, thể
nào cũng còn một chỗ nếu mỗi người nhích lên một chút, ép sát hơn một chút vào
nhau mặc dầu không bao giờ tò mò nhìn nhau. Như một nhà báo trên tờ Guardian viết,
“Ðiều chúng tôi có ở Luân Ðôn là thế này: không phải một sự thách thức nhưng là
một tập hợp của nhiều triệu người nhường nhịn nhau và bỏ qua cho nhau.”
Bởi vậy mặc cho những luận điệu hận thù được thúc đẩy, Luân
Ðôn có vẻ như được miễn nhiễm. Hận thù gia tăng khi những phức tạp bị san bằng.
Nó sống mạnh trong đơn giản, nó vang dội ở những chỗ trống, nó vang vọng ở những
mặt phẳng. Luân Ðôn không phải như vậy. Khi ông Walid Phares tuyên bố trên Fox
News là “Một người có thể đóng cửa một thành phố,” dân chúng Luân Ðôn phản ứng
với những thông điệp khác nhau. Một tiệm cà phê chia sẻ tấm bảng “Luân đôn mở cửa
và chúng tôi cũng vậy, ghé vào uống một ly cà phê.” Một khách đi xe điện ngầm gửi
cảnh một toa xe chật ních. Phóng viên chính trị đài BBC bảo “hoàn toàn sai, chỉ
một khoảng nhỏ của thành phố chúng tôi bị đóng, nhiều triệu người, kể cả chính
trị gia vẫn tiếp tục làm việc.” Và một website đã đổi thông điệp của hệ thống
chuyên chở của Luân Ðôn với thông điệp này, “Tất cả khủng bố xin được lễ phép
nhắc nhở rằng ‘Ðây là Luân Ðôn và dầu quý vị có làm gì cho chúng tôi. Chúng tôi
vẫn sẽ uống trà và vui vẻ tiếp tục. Cảm ơn.’”

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét