Ngô Đình Nhu (1910-1963) xuất thân trong một gia đình quan lại
Phong kiến, theo đạo Công giáo tại Đại Phong, tỉnh Quảng Bình. Sinh ra trong một
gia đình quan lại phong kiến nên từ nhỏ Ngô Đình Nhu đã được giáo dương bởi tư
tưởng Nho học. Năm 1935, Ngô Đình Nhu là người Việt Nam đầu tiên được nhận vào
học trường Quốc gia Chartes của Pháp. Tại Pháp, Ngô Đình Nhu có điều kiện tiếp
xúc với tư tưởng dân chủ phương Tây.
Năm 1938, sau khi tốt nghiệp trường Chartes, Ngô Đình Nhu về
nước và được nhận vào làm việc tại Nha Văn khố và thư viện Đông Dương. Trong thời
gian làm việc tại đây, với phong cách làm việc “đầy nghị lực, đầy năng động” của
một “nhà khoa học”, ông ta đã có những đóng góp nhất định cho hoạt động lưu trữ
của chính quyền thực dân Pháp và góp phần “cứu nguy” một khối lượng lớn tài liệu
lưu trữ thời kỳ phong kiến để lại cho ngày nay.
Sau ngày cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Chính phủ
lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa bổ nhiệm Ngô Đình Nhu làm Giám đốc Nha
Lưu trữ Công văn và Thư viện toàn quốc. Nhưng, trái ngược với phong cách khoa học
trước đây, Ngô Đình Nhu chuyển sang hoạt động chính trị. Đến năm 1954, khi Ngô
Đình Diệm được đưa về Sài Gòn làm thủ tướng, sau là tổng thống chế độ Sài Gòn, Ngô
Đình Nhu trở thành nhân vật quyền lực thứ hai của chế độ. Đồng thời là người
sáng lập ra chủ thuyết Nhân vị Á đông, tổng bí thư Đảng Cần lao Nhân vị – là nền
tảng tư tưởng và cơ sở chính trị của chế độ Sài Gòn. Và cũng là kiến trúc sư của
chế độ Việt Nam cộng hòa 1955-1963.
Có thể nói, Ngô Đình Nhu là tiêu biểu cho một số trí thức Việt
Nam Âu học. Những người sinh ra trong ra đình quan lại phong kiến được đào tạo
và trở về phục vụ chế độ thực dân Pháp, sau Hiệp định Geneve về Việt Nam năm
1954 tiếp tục phục vụ chế độ Sài Gòn.
Bài viết tập trung tìm hiểu về những hoạt động của Ngô Đình
Nhu đối với khoa học lưu trữ ở Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc; vai trò của ông ta
trong việc sáng lập chủ thuyết Nhân vị và Đảng Cần lao Nhân vị, cũng như sự
hình thành và tồn tại của chế độ Việt Nam cộng hòa (1955-1963). Qua đó góp phần
làm rõ hơn sự hình thành, diện mạo của chế độ Việt Nam cộng hòa 1955-1963.
Đồng thời, qua đó cũng góp phần hiểu thêm về một bộ phận trí
thức Âu học ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
Phần một: CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG NGÔ ĐÌNH NHU
1. Việt Nam cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là giai đoạn lịch sử
Việt Nam có những biến đổi hết sức to lớn. Thực dân Pháp xâm lược và biến nước
ta thành xã hội thuộc địa, nửa phong kiến.
Mặc dù triều đình phong kiến nhà Nguyễn đầu hàng thực dân
Pháp, song phong trào chống Pháp cứu nước liên tục nổ ra, như: Phong trào Cần
Vương (1885-1896) và các cuộc khởi nghĩa Ba Đình của Phạm Bành và Đinh Công
Tráng (1881-1887), Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật (1883-1892) và Hương Khê của
Phan Đình Phùng (1885-1895), cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám
lãnh đạo, kéo dài đến năm 1913.
Thất bại của phong trào Cần Vương và các cuộc khởi nghĩa cuối
thế kỷ XIX là dấu chấm hết cho vai trò nắm lấy ngọn cờ lãnh đạo nhân dân cứu nước
của các sĩ phu phong kiến và hệ tư tưởng Nho giáo. Tuy nhiên, trong khi chế độ
phong kiến Việt Nam cùng với hệ tư tưởng Nho giáo ngày càng tỏ ra bất lực trước
yêu cầu của công cuộc chống ngoại xâm vì nền độc lập dân tộc, đã xuất hiện một
số nhà tư tưởng tiêu biểu, từ Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ,
Nguyễn Lộ Trạch… đến Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh,… đề xướng
các tư tưởng canh tân đất nước, làm xuất hiện luồng sinh khí mới. Đồng thời, hàng
loạt các phong trào đấu tranh theo tư tưởng dân chủ tư sản xuất hiện. Hàng ngàn
thanh niên, trí thức Việt Nam vượt biển ra hải ngoại trở về đã tạo ra sự chuyển
biến to lớn về tư tưởng chính trị trong xã hội.
Đầu thế kỷ XX, Phan Bội Châu với Hội Duy tân (1904), tổ chức
phong trào Đông Du (1906-1908), chủ trương dựa vào Nhật để
chống Pháp hay với Việt Nam Quang phục Hội (1912) với ý định võ trang bạo động
đánh Pháp.
Phan Châu Trinh chủ trương dùng những cải cách văn hóa, mở
mang dân trí, nâng cao dân khí, phát triển kinh tế theo hướng tư bản chủ nghĩa
trong khuôn khổ hợp pháp, làm cho dân giàu, nước mạnh, buộc thực dân Pháp phải
trao trả độc lập cho nước Việt Nam. ở Bắc Kỳ, có việc mở trường học, giảng dạy
và học tập theo những nội dung và phương
pháp mới, tiêu biểu là trường Đông Kinh nghĩa thục Hà Nội. ở Trung Kỳ, có cuộc
vận động Duy tân, hô hào thay đổi phong tục, nếp sống, kết hợp với phong tràođấu
tranh chống thuế (1908).
Năm 1919-1923, Phong trào quốc gia cải lương của bộ phận tư
sản và địa chủ lớp trên đã diễn ra bằng việc vận động chấn hưng nội hoá bài trừ
ngoại hoá; chống độc quyền thương cảng Sài Gòn; chống độc quyền khai thác lúa gạo
ở Nam Kỳ; đòi thực dân Pháp phải mở rộng các viện dân biểu cho tư sản Việt Nam
tham gia.
Năm 1923 xuất hiện Đảng Lập hiến của Bùi Quang Chiêu ở Sài
Gòn, tập hợp tư sản và địa chủ lớp trên. Họ cũng đưa ra một số khẩu hiệu đòi tự
do dân chủ để lôi kéo quần chúng.
Năm 1925-1926 đã diễn ra Phong trào yêu nước dân chủ công
khai của tiểu tư sản thành thị và tư sản lớp dưới. Họ lập ra nhiều tổ chức
chính trị như: Việt Nam Nghĩa đoàn, Phục Việt (1925), Hưng Nam, Thanh niên cao
vọng (1926); thành lập nhiều nhà xuất bản như Nam Đồng thư xã (Hà Nội), Cường học
thư xã (Sài Gòn), Quan hải tùng thư (Huế); ra nhiều báo chí tiến bộ như Chuông
rạn (La Cloche fêlée), Người nhà quê (Le Nhaque), An Nam trẻ (La jeune Annam)…
Có nhiều phong trào đấu tranh chính trị gây tiếng vang khá lớn như đấu tranh
đòi thả Phan Bội Châu (1925), lễ truy điệu và để tang Phan Châu Trinh, đấu
tranh đòi thả nhà yêu nước Nguyễn An Ninh (1926). Cùng với phong trào đấu tranh chính trị, tiểu tư sản
Việt Nam còn tiến hành một cuộc vận động văn hóa tiến bộ, tuyên truyền rộng rãi
những tư tưởng tự do dân chủ. Tuy nhiên, càng về sau, cùng sự thay đổi của điều
kiện lịch sử, phong trào trên đây ngày càng bị phân hoá mạnh. Có bộ phận đi sâu
hơn nữa vào khuynh hướng chính trị tư sản (như Nam Đồng thư xã), có bộ phận chuyển dần sang quỹ
đạo cách mạng vô sản (tiêu biểu là Phục Việt, Hưng Nam).
Năm 1927-1930 Phong
trào cách mạng quốc gia tư sản gắn liền với sự ra đời và hoạt động của Việt Nam
Quốc dân Đảng (25-12-1927). Đặc biệt năm 1930, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt
Nam đánh dấu bước phát triển mới trong phong trào cách mạng Việt Nam.
Trong điều kiện đó, tầng
lớp trí thực Việt Nam có sự phân hóa sâu sắc. Các trí thức Nho học thủ cửu tiếp
tục phục vụ triều đình phong kiến, làm tay sai cho thực dân Pháp. Xuất hiện tầng
lớp trí thức Âu học, với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ. Ngay trong đội ngũ
tri thức Tây học cũng có sự phân hóa. Một bộ phận sau khi xuất dương, tiếp thu
những tư tưởng mới, với văn minh phương Tây trở về tham gia các phong trào đấu
tranh yêu nước, đẩy mạnh tuyên truyền tư tưởng dân chủ tư sản hay vô sản trong
quần chúng. Nhưng cũng có một bộ phận không nhỏ, trở về nước làm công chức cho
chế độ thực dân.
2. Nền tảng gia đình
Ngô Đình Nhu sinh ngày 7 tháng 10 năm 1910 tại xã Phước Qua,
tổng Cự Chánh, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, nhưng nguyên quán ở làng Đại
Phong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, trong một gia đình quan lại theo đạo
Thiên chúa.
Về nguồn gốc gia đình, theo một số ghi chép, gia đình Ngô
Đình Nhu vốn thuộc hàng bần dân trong xã hội phong kiến Việt Nam, kiêm sống bằng
nghề chài lưới[1]. Đến đời cha của Ngô Đình
Nhu (Ngô Đình Khả), thời điểm thực dân Pháp đã hoàn thành bình định tỉnh Quảng
Bình, Ngô Đình Khả được các giáo sĩ cho đi học chữ Hán và chữ Pháp tại một trường
dòng, rồi được đưa đi học ở Tổng Chủng viện của dòng Thừa Sai Paris tại đảo
Poulo Pinang – Mã Lai[2]. Sau đó được người Pháp đưa về nước và cho làm thông
ngôn ở tòa Khâm sứ Huế. Rồi dần trở thành quan lại trong triều đình phong kiến
An Nam.
Năm 1885, Ngô Đình Khả được quân Pháp và triều đình An Nam cử
giữ chức An phủ sứ ở Quảng Bình chuyên lo việc bình định và chiêu an dưới quyền
điều khiển của đại tá Pháp Duvillier – ủy viên chính phủ vùng Bắc xứ Trung kỳ.
Dưới thời vua Thành Thái, với nhiều “công trạng” trong việc đàn áp các cuộc nổi
dậy chống Pháp ở tỉnh Quảng Bình, đặc biệt là phong trào Cân Vương với sự kiện
đào mả lấy xác cụ Phan trộn thuốc súng, bỏ vào súng thần công bắn xuống dòng
sông Lam, Ngô Đình Khả được cả Pháp và triều đình Huế trọng dụng xếp vào hàng cận
thần, sau làm đến quan Thượng Thư bên cạnh vua Thành Thái mới về hưu.
Kế tục sự nghiệp của người cha, các anh của Ngô Đình Nhu là
Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Diệm đều trở thành những vị quan lớn trong triều đình
phong kiến (Ngô Đình Khôi làm Tổng đốc Quảng Nam; Ngô Đình Diệm làm đến Thượng
thư bộ Lại). Còn người anh cả, Ngô Đình Thục thì trở thành làm Giám mục (Giám mục
Vĩnh Long năm 1942).
Riêng Ngô Đình Nhu, sau những năm tháng chịu sự giáo dưỡng của
gia đình và giáo hội ở Huế, đầu những năm 30 của thế kỷ XX, được đưa sang Pháp
du học tại trường Đại học Văn khoa và trường Ngôn ngữ phương Đông. Năm 1935,
Ngô Đình Nhu là người Việt Nam đầu tiên thi đỗ vào Trường Quốc gia Chartes của
Pháp (trường Cổ tự học Quốc gia Pháp). Năm 1838, với việc bảo vệ thành công tại
Pháp luận văn tốt nghiệp chủ đề “Phong tục và tập quán của người Bắc Kỳ vào đầu
thế kỷ 17 và 18, theo các nhà thám hiểm và truyền giáo” – luận văn được Bộ trưởng
Bộ Giáo dục Quốc gia Pháp đánh giá xuất sắt, Ngô Đình Nhu là sinh viên Việt Nam
đầu tiên tốt nghiệp xuất sắc trường Cổ tự học Quốc gia Pháp với thứ hạng Ba.
Cũng là người Việt Nam đầu tiên có bằng Lưu trữ – Cổ tự và bằng cử nhân khoa học[3].
Trong những năm học về tài liệu cổ tại trường École
nationale des Charter, Ngô Đình Nhu tiếp xúc với chủ nghĩa Nhân vị
(personnalisme) của Emmanuel Mouier (1905-1950) – một nhà triết học duy tâm
Pháp, quan niệm: “con người (nhân vị) có trách nhiệm là giá trị cao nhất, trên
các giá trị khác (chính trị, kinh tế, tổ chức x hội). Con người (nhân vị) đây
là những bản thể tinh thần (có trước vật chất) theo nghĩa duy tâm – tôn giáo .
Toàn bộ thế giới tự nhin v x hội l một cộng đồng nhân vị mà Thượng đế là nhân vị
tối cao”[4]. Mounier công kích chủ nghĩa cộng sản nhưng đồng thời cũng “tố cáo
xã hội tư bản hỗn độn (kinh tế, xã hội, tư tưởng)”, do đó được một số trí thức
Công giáo trẻ tin theo. Triết lý này đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư duy của Ngô
Đình Nhu, trở thành nền tảng quan trọng hình thành chủ thuyết Nhân vị Á Đông của
ông ta sau này.
Nhìn chung, xuất thân từ một gia đình theo đạo Thiên chúa và
có truyền thống nho học, song Ngô Đình Nhu sớm có điều kiện tiếp xúc với văn
minh phương Tây và bị ảnh hưởng bởi hệ tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây. Đồng
thời, xuất thân trong một gia đình quan lại cao cấp của chế độ thực dân – phong
kiến, đã tạo cho Ngô Đình Nhu thiên hướng
bài “Cộng”. Một tư tưởng quyết định đến mọi chính sách của chế độ Việt Nam cộng
hòa ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1955-1963.
Phần hai: TỪ NHÀ TRÍ THỨC TRỞ THÀNH CHÍNH TRỊ GIA
Nhà lưu trữ Ngô
Đình Nhu
Năm 1938, trở về Việt Nam với hai bằng Lưu trữ – Cổ tự và cử
nhân khoa học, Ngô Đình Nhu được nhận vào làm việc tại Sở Lư trữ và Thư viện
Đông Dương với chức danh Quản thủ viên phó hạng ba. Ngay trong năm đầu làm việc
Ngô Đình Nhu đã được Giáo đốc Sở Lưu trữ và Thư viện Đông Dương lúc bấy giời là
Paul Boudet đánh giá là một “lưu tữ viên – cổ tự trẻ đầy triển vọng”[5]. Năng lực
của Ngô Đình Nhu được chứng minh trong cộng tác với Paul Boudet cho ra đời các
tập 2,3 và 4 của bộ sách Đông Dương pháp chế toàn tập và chịu trách nhiệm chính
trong việc đưa tài liệu lưu trữ ra trưng bày, triển lãm. Chính sự đam mê nghề
nghiệp của Ngô Đình Nhu đã khiến Paul Boudet chấp nhận kế hoạch sắp xếp lại tài
liệu các vương triều phong kiến Việt Nam.
Năm 1942, với năng lực vượt trội, Ngô Đình Nhu được đề bạt
làm người thành lập cơ quan Lưu trữ và thư viện Trung Kỳ ở Huế nhằm tổ chức lại
tài liệu của Nam triều. Chính trong thời gian này, Ngô Đình Nhu đã đề ra kế hoạch
cứu nguy tài liệu có giá trị quan trọng đối với công tác lưu trữ ở Việt Nam thời
điểm đó và cả hiện tại. Tháng 2-1942, Ngô Đình Nhu đề xuất kế hoạch cứu nguy
tài liệu Châu bản đang được cất giữ ở Nội các. Kế hoạch của Ngô Đình Nhu đã được
Trần Văn Lý – Tổng lý Ngự tiền Văn phòng triều đình Huế trình tấu lên vua Bảo Đại
và được phê chuẩn. Sau đó, Ngô Đình Nhu được vua Bảo Đại phê chuẩn làm Chủ tịch
Hội đồng cứu nguy Châu bản. Trong 3 năm (1942-1944), với vai trò Chủ tịch hội đồng
và cố vấn kỹ thuật, Ngô Đình Nhu đã góp phần quan trọng vào việc tập trung gìn
giữ tài liệu của 5 nguồn Quốc sử quán, Tàng thư lâu, Nội các, Viện Cơ mật và
Thư viện Bảo Đại vào cơ quan Lưu trữ và Thư viện của Nam triều. Riêng đối với số
Châu bản ở Nội các, dưới sự chỉ đạo của Ngô Đình Nhu, đã được thống kê, lưu trữ
trên kệ và sắp đặt có số thứ tự, đồng thời đã làm ra được ba bản thống kê bằng
chữ Hán và chữ Quốc ngữ. Nhờ vậy, đến nay, dù trải qua chiến tranh số tài liệu
trên vẫn được bảo quản an toàn.
Cũng trong thời gian từ 1942-1944, với chức danh Quản thủ
viên Lưu trữ và thư viện Trung Kỳ, Ngô Đình Nhu đã thực hiện tốt các nhiệm vụ:
Thống kê tất cả tài liệu của các kho khác nhau; tổ chức và sắp xếp hợp lý; và tổ
chức bảo quản trong một kho duy nhất trong điều kiện tốt nhất.
Có thể nói, trong thời gian ngắn (1938-1944), Ngô Đình Nhu
đã có những đóng góp quan trọng, tạo ra sự biến chuyển quan trọng đối với hoạt
động lưu trữ ở Việt Nam.
Nhìn chung, trong giai đoạn là nhà lưu trữ, Ngô Đình Nhu tỏ
ra là một con người có khả năng và chăm chú vào việc chuyên môn một cách “thuần
túy”, không màng tới chính sự. Với năng lực và sự đam mê nghề nghiệp, con đường
công danh của Ngô Đình Nhu liên tục phát triển mạnh. Chỉ trong 6 năm (từ năm
1938 đến năm 1943), ông ta được thăng hạng từ Cố vấn quản thủ hạng Ba lên Cố vấn
quản thủ hạng Nhất. Từ cố vấn quản thủ trở thành Quản thủ Sở Lưu trữ và Thư viện
của Tòa Khâm sứ Trung kỳ ở Huế năm 1943, điều mà chưa người Việt nào có được
trước đó.
Tuy nhiên, đến năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, lật
đổ ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật, Chính phủ lâm thời nước Vịêt
Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Với chính sách đoàn kết dân tộc, chủ trương mời tất
cả những nhân sỹ yêu nước có tài, có nhiệt huyết tham gia xây dựng đất nước. Nhận
định Ngô Đình Nhu là một nhà trí thức, với nền tảng Nho học trong một gia đình
khoa bảng, lại được học chính quy về chuyên ngành văn bản giấy tờ tại Pháp.
Trong thời gian làm việc tại Nha Lưu trữ và Thư viện Đông Dương, Ngô Đình Nhu
được Giám đốc Paul Boudet đánh giá là một Lưu trữ viên – Cổ tự đầy triển vọng,
có văn hoá rộng và khả năng nghề nghiệp hoàn hảo. Nên ngày 8/9/1945, Bộ trưởng
Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa kí Sắc lệnh cử Ngô Đình Nhu làm Giám đốc Nha Lưu trữ công văn và Thư viện
toàn quốc. Song đây cũng là thời điểm, Ngô Đình Nhu chuyển hướng từ hoạt động
trí tuệ thuần túy sang hoạt động chính trị. Khước từ trách nhiệm của một nhà
trí thức trước vận mệnh của đất nước, từ bỏ chức vụ Giám đốc Nha Lưu trữ công
văn và thư viện toàn quốc, Ngô Đình Nhu tập hợp lực lượng ra mặt chống phá cách
mạng.
2. Vận động chính trị cho Ngô Đình Diệm
Năm 1946, Nhu cùng với Hoàng Bá Vinh trong nhóm Công giáo mà
Nhu đang tập hợp, chạy về Phát Diệm – khu an toàn của Công giáo thời đó. Ẩn náu
ở Phát Diệm ít ngày, Nhu chạy vào Thanh Hóa, nhờ linh mục xứ đạo ở đây che dấu,
giới thiệu kết bạn với Trần Kim Tuyến, vốn là chủng sinh ở tiểu chủng viện
Thanh Hóa mà sau này là Tổng Thơ ký Đảng Cần lao Nhân vị, trùm mật vụ của Đảng
Cần lao dưới chế độ Diệm. Tại đây, Nhu tham gia vào các tổ chức phản động đội lốt
Công giáo chống lại chính phủ kháng chiến của Việt Minh. Sau đó, Ngô Đình Nhu
tìm đường chạy trốn vào Nam.
Năm 1950, khi Ngô Đình Diệm sang Mỹ vận động chính trị, Nhu
cùng Bửu Dưỡng, Ngô Văn Thúy, Lý Văn Lập kết hợp thuyết Nhân Vị (Personalism) của
Emmannuel Mouriers với triết lý của Thiên Chúa giáo hình thành chủ thuyết Nhân
vị Duy linh, hay thuyết Nhân vị Á Đông nhằm hậu thuẫn cho anh trai. Trên nền tảng
thuyết Nhân vị (Personnalism) của nhà trí thức Thiên Chúa giáo người Pháp,
Emmanuel Mouniers, kết hợp với những bài thuyết giảng giáo lý của các giám mục
Công giáo, Ngô Đình Nhu cùng các linh mục hòa trộn thêm một mớ tư tưởng góp nhặt
gồm một ít từ giáo lý Thiên Chúa Giáo, thuyết Kiêm Ai của Khổng Tử, vài nét của
chủ nghĩa Tư bản cùng với chủ nghĩa Duy Linh chống cộng do Nhu sáng tác để hình
thành chủ thuyết vừa triết lý vừa chính trị gọi là chủ nghĩa Nhân Vị. Về căn bản
chủ thuyết nhân vị đề cao cá nhân, lấy con người (ở đây là các vĩ nhân, một cá
nhân riêng biệt) làm trung tâm. Nhân Vị là vị thế của con người, lấy con người
làm trung tâm trong mối tương quan với đồng loại, thiên nhiên và Thượng đế. Người
là trung tâm để phục vụ, có ưu thế hơn các thực tế khác như dân tộc, nhân loại,
hay nhu cầu vật chất. Con người có phần xác và phần hồn, mà linh hồn là cốt lõi
vì nó là “một loài linh thiêng, vô hình, bất tử và bất diệt”. Trên mặt triết học,
học thuyết này triển khai có hệ thống những phạm trù tôn giáo của thuyết Duy
Linh nặng nề về mặt tín ngưỡng của giáo lý Thiên Chúa giáo. Đến năm 1951, khi
Nhu rời Đà Lạt xuống Sài Gòn khái niệm Cần Lao được thêm vào vế thứ hai của lý
thuyết. Và công khai phổ biến trên tuần báo Xã Hội.[6]
Tuy nhiên, chủ thuyết của Ngô Đình Nhu đã không được các trí
thức Việt Nam cùng thời thừa nhận. Kỳ giả Stanley Karnow đã nêu lên những nhận
định của những người đường thời về chủ thuyết này như sau: “Thuyết Nhân Vị của
Ngô Đình Nhu đã chịu 2 sự tai hại. Thứ nhất là ngay cả giới trí thức mà còn
không thể hiểu nổi thuyết đó là gì huống chi quần chúng. Thứ hai là ông Ngô
Đình Nhu bị người thừa kế của Mounier lên án là “gian lận” trên tờ báo Công
Giáo Esprit tại Pháp. Ngô Đình Nhu cố gắng tổng hợp một cách quá gượng ép nhiều
hệ thống tư tưởng vào thuyết Nhân Vị của ông ta, vì tuy chủ yếu mô phỏng thuyết
Nhân Vị Mounier nhưng ông lại muốn có những thêm bớt, đổi thay cho có vẻ đó là
sáng tạo độc lập riêng của mình. Đã thế ông Nhu tuy là một người Việt trí thức
nhưng lại xuất thân từ trường Tây nên không viết được hay không muốn viết bài bằng
quốc ngữ mà chỉ muốn viết bằng tiếng
Pháp rồi có người dịch ra tiếng Việt. Do đó bản dịch không lột hết được tư tưởng
của ông ta. Nguyên bản tiếng Pháp đã khúc mắc khó hiểu vì khó khăn diễn đạt thì
bản dịch Việt ngữ chắc chắn như một mớ chỉ rối. Chẳng trách, ngay đến giờ này,
một lý thuyết gia đã từng nhận là chỉ đạo sinh mệnh quốc gia suốt 9 năm trời
như thế mà không để lại được một tác phẩm nghiên cứu nào, lại càng không để lại
một vết tích suy tư nào trong tâm thức dân tộc, ngoại trừ một thiểu số “hoài
Ngô” chỉ biết hò hét 2 chữ Nhân Vị nhạt nhẽo”.[7]
Năm 1953, nhằm tạo lực lượng cho Diệm, Nhu cùng Trần Văn Đỗ,
Trần Chánh Thành, Nguyễn Tăng Nguyên, Trần Trung Dung xin phép Bửu Lộc – đang
làm Thủ tướng Chính phủ tay sai thực dân Pháp lúc đó, cho ra đời một lực lượng
thợ thuyền lấy tên là “Tổng Liên Đoàn Lao Công” dựa theo mô hình của lực lượng
thợ thuyền Thiên Chúa giáo Pháp. Vào tháng 9/1953, Nhu tiếp tục tổ chức hội nghị
“Đại đoàn kết”, đòi hỏi hòa bình cho Việt Nam gồm các đoàn thể chính trị gồm
luôn cả Bảy Viễn và các giáo phái. Song song đó, Nhu bí mật cho ra đời đảng “Cần
Lao Nhân Vị Cách mạng”. Năm 1954, Ngô Đình Nhu càng đẩy mạnh chủ thuyết Nhân vị
trong xã hội miền Nam, đồng thời đưa nó thành nền tảng tư tưởng của các tổ chức
do ông ta sáng lập, nhằm hậu thuẫn chính trị cho anh trai. Chủ thuyết này và
các lực lượng chính trị do Ngô Đình Nhu lập ra sau đó trở thành nền tảng tư tưởng
và cơ sở chính trị của chế độ độc tài Ngô Đình Diệm.
Phần ba: NGÔ ĐÌNH NHU - KIẾN TRÚC SƯ CỦA CHẾ ĐỘ VIỆT NAM CỘNG HÒA1955-1963
1. Vai trò của Ngô Đình Nhu đối với sự ra đời của chế độ Việt
Nam cộng hòa
Tháng 6-1954, trước khi Hiệp định Genève về chấm dứt chiến
tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, Ngô Đình Diệm được Mỹ đưa về
Sài Gòn làm Thủ tướng chính phủ Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại làm Quốc trưởng. Với
âm mưu biến miền Nam Việt Nam thành con đê ngăn chặn làn sóng đỏ tràn xuống
Đông Nam á, Mỹ bất chấp Hiệp định Genève, hậu thuẫn cho Ngô Đình Diệm hất cẳng
thực dân Pháp, lập ra cái gọi là Việt Nam cộng hòa.
Việc ra đời của chế độ Việt Nam cộng hòa năm 1955 do Ngô
Đình Diệm cầm đầu, ngoài vai trò của Mỹ còn có sự trợ thủ đắc lực của Ngô Đình
Nhu. Vai trò của ông ta được thể hiện rõ nét qua việc thành lập hai tổ chức Đảng
Cần lao Nhân vị và Phong trào Cách mạng Quốc gia và điều khiển 2 tổ chức này
thanh trừng các phần tử đối lập và tham gia các “trò chơi” dân chủ do Mỹ – Diệm
lập ra. Mà thể hiện rõ nhất là trong cuộc trưng cầu dân ý, truất phế Bảo Đại và
cuộc bầu cử Quốc hội lập pháp năm 1955.
Ngày 2 tháng 9 năm 1954, Đảng Cần lao Nhân vị chính thức
thành lập (Nghị định số 116/BNV/CT)[8], với nòng cốt là các tổ chức,
lực lượng Công giáo phản động được thành lập từ sau cách mạng tháng
Tám năm 1945, như: Liên đoàn Công giáo, Thanh niên Công giáo, Xã hội Công
giáo,… Thành phần của đảng này chủ yếu là chức sắc và tín đồ Công giáo trong số
dân di cư và công chức cùng sĩ quan trung cao cấp trong quân đội, với số lượng
đảng viên lên tới 70 ngàn người. Ban Chấp hành Trung ương có các ủy viên: Trần
Trung Dung, Nguyễn Tăng Nguyên, Lý Trung Dung, Hà Đức Minh, Trần Quốc Bửu, Võ
Như Nguyện, Lê Văn Đông do Ngô Đình Nhu làm Tổng bí thư.
Đảng cương và tuyên ngôn của Đảng Cần lao đã cho thấy rõ vai
trò của nó cũng như của Ngô Đình Nhu đối với chính quyền Việt Nam cộng hòa.
Mục đích của đảng là: “tranh đấu để thực hiện lý tưởng cách
mạng Nhân vị… đoàn kết các tầng lớp dân chúng; kiến thiết Quốc gia trên bốn
lĩnh vực: tinh thần – xã hội – chánh trị và kinh tế” và hoạt động theo nguyên tắc
“dân chủ tập trung”[9].
Tuyên ngôn của Đảng Cần lao được phổ biến rộng rãi với những
ngôn từ cổ súy cho sự tự do, dân chủ theo kiểu Nhân vị. Một mặt phê phán Chủ
nghĩa Tư bản: “Công nghệ cực kỳ bành trướng mà con người vẫn bị đói rét. Những
phát minh khoa học, đã cải tạo được cả thiên nhiên, mà chỉ nhằm “lợi nhuận”,
không hề có mục đích phục vụ “nhu cầu” của đại đa số”[10]. Đồng thời xuyên tạc
chủ nghĩa xã hội khi cho rằng: “dưới áp lực của đoàn thể ở nơi này, cũng như
ích kỷ cá nhân ở nơi khác, đời sống tinh thần và vật chất của con người trở
thành nô lệ truyền kiếp để phụng sự cho chủ nghĩa duy vật”.
Về tổ chức, phỏng theo mô hình tổ chức của các đảng Cộng sản,
Ngô Đình Nhu đã tổ chức ĐCLNV theo các cấp bộ từ trung ương đến cơ sở, với tổ
chức cơ sở là chi bộ.
Nguyên tắc hoạt động đầu tiên của đảng này là bí mật: “tiềm
lực của Đảng là cơ sở bí mật tối cần thiết để bảo vệ cho các bộ phận công khai,
gặp khi tình thế thúc đẩy các hoạt động của Đảng phải rút hoàn toàn vào bí mật”[11].
Trong thời gian thế lực của Pháp ở miền Nam Việt Nam còn chiếm
ưu thế, nhất là trong quân đội Quốc gia Việt Nam, anh em Diệm đưa đảng viên vào
“nằm vùng” trong bộ máy quân sự ở các cấp, nhiệm vụ chủ yếu là do thám và thanh
trừng các phần tử đối lập trong bộ máy quân sự.
Năm 1955, sau khi giải quyết xong những “rào cản” là các phe
phái đối lập – thực chất là thế lực của Pháp ở chính trường miền Nam, trợ thủ
cho Ngô Đình Diệm thực hiện phế truất Bảo Đại, Ngô Đình Nhu chỉ đạo thành lập
thêm tổ chức Phong trào Cách mạng Quốc gia do Trần Chánh Thành làm chủ tịch.
Hai tổ chức này dưới sự chỉ đạo của Ngô Đình Nhu, đã điều
khiển toàn bộ tất cả các cơ quan, đoàn thể từ trung ương đến địa phương của
trong bộ máy của chính quyền Diệm ký đơn theo mẫu sẵn bôi nhọ Bảo Đại, và suy
tôn Ngô Đình Diệm, với nội dung: Lên án Bảo Đại là tên bán nước; Đồng thanh đòi
truất phế Bảo Đại; Suy tôn và thề trung thành với Ngô Thủ tướng. Đồng thời trực
tiếp tham gia cuộc bỏ phiếu gian lận truất phế Bảo Đại.
Sau cuộc “đảo chính” Bảo Đại “thành công”, Ngô Đình Nhu tiếp
tục chỉ đạo hai tổ chức này tham gia cuộc bầu cử Quốc hội lập pháp khóa I. Kết
quả sau cuộc bầu cử, hai tổ chức này chiếm hơn 90% số ghế đại biểu trong quốc hội.
Vì vậy, ngày 20-10-1955, bản Hiến pháp – văn bản luật cao nhất, chính thức cho
ra đời chế độ Việt Nam cộng hòa do Ngô Đình Diệm làm Tổng thống, được quốc hội
thông qua mau chóng.
2. Ông cố vấn Ngô Đình Nhu
Ngay khi chế độ Ngô Đình Diệm được xác lập năm 1955, Ngô
Đình Nhu đã thiển hiện rõ vai trò kiến trúc sư thông qua việc xác lập nên tảng
tư tưởng, thiết lập cơ sở chính trị, cơ sở pháp lý, cũng như trực tiếp tham gia
hoạch định các chính sách, sách lược quan trọng của Việt Nam cộng hòa trong
giai đoạn 1955-1963.
Với “hoài bão” chủ nghĩa nghĩa nhân vị sẽ bài trừ được lạc hậu,
đẩy lùi được chủ nghĩa Mác xít, như Ngô Đình Diệm khẳng định: “Trong một xã hội
hậu tiến như Việt Nam, nhiều cơ cấu nội bộ không thích hợp với một chế độ kinh
tế lấy nhân vị làm căn bản. Người ta sẽ phí công nếu chỉ bằng lòng tô sửa lại
những đường nứt nẻ ở một tòa nhà lung lay sắp đổ nát. Nếu là cần, chúng ta phải
mạnh dạn đập tan những cơ cấu lỗi thời ấy đi để đặt nền tảng cho những công cuộc
xây dựng mới lấy sự giải phóng nhân vị làm tiêu chuẩn. Làm như thế, chúng ta sẽ
tránh khỏi sự cám dỗ của chủ nghĩa mác-xít, là thuyết đã chủ trương quyền tối
thượng của kinh tế nhân vị”[12].
Nên khi chế độ Việt Nam cộng hòa được thành lập, Nhu đã lấy
chủ thuyết Nhân vị làm hệ tư tưởng cơ bản của chế độ. Nó được thể hiện rõ nén
ngay trong các thông điệp của tổng thống Ngô Đình Diệm và bản Hiến pháp của Việt
Nam cộng hòa.
Ngày 17-4-1956, trong thông điệp mà Ngô Đình Diệm gửi Quốc hội
yêu cầu cùng xây dựng Hiến pháp VNCH trên nền tảng Nhân vị Duy linh, ông ta
nói: “căn bản chỉ có thể là căn bản duy linh, con đường ấy là con đường theo
sát nhân vị, trong thể chất cũng như trong đời sống tập thể, trong sứ mệnh
thiêng liêng cũng như trong cố gắng để đạt tới mức toàn thiện, toàn Hoa Kỳ về
các phương diện lý trí, đạo đức và thiêng liêng”[13]. Ngày 26-10-1956, Hiến
pháp của chế độ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam được ban hành. Trong lời
mở đầu bản Hiến pháp có ghi: “Xây dựng dân chủ về chánh trị, kinh tế, xã hội,
văn hóa cho toàn dân trong sự tôn trọng Nhân vị”[14]. Như vậy, nền tảng tư tưởng
của chế độ đã được xác định, đó là thuyết Nhân vị.
Ngoài ra, chính quyền Diệm đẩy mạnh đưa chủ thuyết Nhân vị
vào giảng dạy tại các giảng đường đại học, chủ trương tuyên truyền chủ thuyết
Nhân vị vào xã hội miền Nam.
Tạo dựng cơ sở chính trị cho chế độ Việt Nam cộng hòa, Ngô
Đình Nhu biến toàn bộ nhân viên guồng máy chế độ thành đảng viên Đảng Cần lao
và thành viên của Phong trào Cách mạng Quốc gia, biến hai tổ chức này thành một
siêu chính quyền bên trong và bên trên chính quyền Việt Nam cộng hòa.
Ngay trong tuyên ngôn của Đảng Cần lao, Ngô Đình Nhu cũng
không ngần ngại cho thấy quan điểm, khi cần thiết Đảng Cần lao sẵn sàng “nhảy
ra” thay thế chính quyền: “Nếu cần phải ứng phó với một tình trạng khẩn trương
đặc biệt, Trung ương cũng có trọn quyền chuyển toàn bộ cơ sở thành những cơ cấu
tổ chức hoạt động quyết liệt, để nắm vững phần chủ động trong mọi hoàn cảnh. Ví
dụ: nếu xét cần, cũng có thể thiết lập một Ủy ban chỉ đạo chánh trị, một quân ủy
hội, một bộ máy phòng gian và phản gián, một cơ quan quân pháp, một tổ chức xã
hội (y tế, cứu tế,…) trong tình thế đặc biệt, v. v…”[15].
Bên cạnh một bộ phận hoạt động công khai, Ngô Đình Nhu đưa
phần lớn đảng viên Đảng Cần lao tham gia hoạt động ngầm trong các tổ chức như:
Thanh niên Cộng hòa do Ngô Đình Nhu làm thủ lĩnh; Phong trào Phụ nữ Liên đới,
Thanh nữ Cộng hòa do Trần Lệ Xuân lãnh đạo; Sở Nghiên cứu chính trị – xã hội do
Trần Kim Tuyến, Tổng Thư ký Đảng Cần lao, đứng đầu; Lực lượng đặc biệt do Lê
Quang Tung đứng đầu.
Các tổ chức này tùy theo vị trí, không chỉ trực tiếp tham
gia vào guồng máy chính quyền VNCH, mà còn có nhiệm vụ theo dõi, giám sát hoạt
động của các tổ chức chính trị và xã hội khác.
Tạo dựng cơ sở pháp lý cho chế độ Việt Nam cộng hòa, Ngô
Đình Nhu trực tiếp tham gia soạn thảo bản hiến pháp – văn bản luật cao nhất của
chế độ. Do đó, bản Hiến pháp này, có đầy
đủ tư tưởng duy linh, hỗn tạp của chủ thuyết Nhân vị, cùng với sự khẳng định
quyền lực tối cao của Tổng thống. Nhu đưa vào Hiến Pháp những nguyên tắc chính
trị chà đạp lên sinh hoạt dân chủ và quyền tự do của công dân để tập trung quyền
hành vào một thiểu số thống trị, tạo ra tính độc tài trong bộ luật căn bản nhất
và cao nhất của quốc gia….
Với chức vị chính thức là Dân biểu Quốc hội nhưng Ngô Đình
Nhu chưa bao giờ bước chân đến tòa nhà lập pháp để tham dự sinh hoạt “nghị trường”,
cũng như làm trách nhiệm dân cử mà chỉ ngồi tại dinh Độc Lập với vai trò cố vấn
chính trị bên cạnh tổng thống.
Chức cố vấn chính trị của Ngô Đình Nhu chưa bao giờ là một
chức vụ chính thức của chính quyền như chức cố vấn được công khai hóa và qui chế
hóa như của Mỹ, Anh. Ngô Đình Nhu được ca tụng là “cố vấn”, vì nắm trọn quyền
hành quốc gia trong tay. Với vai trò là “cố vấn chính trị” bên cạnh Tổng thống,
Nhu trở thành bộ não của chế độ, nơi khai sanh và điều khiển tất cả mọi sách lược
của quốc gia. Với cái bề ngoài khôn khéo, tế nhị và kín đáo, ông tỏ ra phục
tùng người anh Tổng thống, nhưng quyền hành thực sự lại nằm trong tay cố vấn
chính trị Ngô Đình Nhu.
Đó cũng là một thực tế, do bên cạnh Ngô Đình Nhu ngoài cơ sở
chính trị to lớn, nắm toàn bộ guồng máy chế độ là Đảng Cần lao và Phong trào
Cách mạng Quốc gia, còn có các tổ chức đặc biệt, như Sở Nghiên cứu Chính trị của
Trần Kim Tuyến – thực chất là một tổ chức tình báo làm việc trực tiếp với Nhu
và lực lượng đặc biệt do Trần Quang Tung đứng đầu.
Với cơ sở đó, Ngô Đình Nhu thao túng bộ máy chế độ Việt Nam
cộng hòa. Các hồi ký của các tướng lĩnh, nhân vật của chế độ Sài Gòn đã cho thấy,
ở miền Nam Việt Nam không có điều gì mà Nhu không dám làm: rình rập cộng sự viên, bắt bớ một cách độc
đoán những người tình nghi là đối lập, vu khống, xuyên tạc và thẳng tay thủ tiêu
đối lập, lũng đoạn kinh tế.
Đỗ Mậu – một người từng ở bên cạnh nhà Ngô Đình, trong hồi
ký đã viết : “Ngô Đình Nhu chỉ có cái thực là tổ chức mạng lưới do thám để cán
bộ của ông ta trong quân đội và trong cơ quan chính quyền rình mò, theo dõi,
báo cáo những kẻ có ý chống đối chế độ và thăng thưởng cho những kẻ trung thành
với mình. Hệ thống đó chỉ làm nhiệm vụ bảo
vệ chế độ với một mục đích quá hẹp hòi, vì thế chế độ Ngô Đình Diệm đã mất đi sự
ủng hộ của nhân dân”.[16]
Còn tướng Cao Văn Viên nhận xét: “Ông Ngô Đình Diệm chỉ là một
symbol, một biểu tượng mà thôi; ông không thể làm gì nếu không có cố vấn Nhu
bên cạnh. Tất cả các bài diễn văn của Tổng thống Diệm đều do Nhu soạn thảo”
[17].
Nhìn chung, trong chế độ Việt Nam cộng hòa, dù không có bất
cứ một chức vụ chính thức nào, là cố vấn chính trị của Tổng thống, Tổng bí thư
Đảng Cần lao nhân vị, Tổng thủ lãnh Thanh niên Cộng hòa (một tổ chức thanh niên
do Nhu lập ra, phỏng theo mô hình Đảng Sơ-mi Nâu của Hitler), người chỉ huy hai
ngành tình báo và mật vụ của chế độ Sài gòn, dân biểu Quốc hội, chủ tịch Ủy ban
liên bộ đặc trách ấp chiến lược, quyền hành của Ngô Đình Nhu là vô hạn, đôi khi
lấn lướt cả Tổng thống.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét