Hình: Thành viên Phong trào Đông
du. Nguồn: Trung tâm Văn hóa Pháp cung cấp.
Đặt vấn đề
Với cái nhìn lịch sử, chúng ta biết
đến Phan Bội Châu ở tư cách là một lãnh tụ của phong trào giải phóng dân tộc,
“một bậc anh hùng, một vị thiên sứ, đấng xả thân vì nền độc lập, được hai mươi
triệu đồng bào trong vòng nô lệ tôn kính”. Trong cuộc đời cách mạng của cụ, có
thể nói “thời huy hoàng” nhất đó là khoảng thời gian cụ dẫn dắt phong trào Đông
Du và cũng không quá khi nói phong trào Đông Du có sức ảnh hưởng to lớn đến tiến
trình giải phóng dân tộc.
Về Phan Bội Châu và phong trào
Đông Du đã có rất nhiều học giả nghiên cứu và đã cho ra những tác phẩm có giá
trị cao. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu về những nhân
vật tiêu biểu của Vĩnh Long tham gia Phong trào Đông Du.
Đôi nét về Phan Bội Châu và phong
trào Đông Du ở Nam Kì
Đôi nét về Phan Bội Châu
Phan Bội Châu sinh năm 1867 mất
năm 1940, tên thật là Phan Văn San hiệu là Sào Nam, ngoài ra còn có những bút
hiệu khác như Thị Hán, Việt Điểu, Độc Kinh Tử…Ông sinh ra trong một gia đình
nghèo thuộc làng Đan Nhiễm, xã Xuân Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Ông từ nhỏ
đã nổi tiếng thông minh, lúc 8 tuổi đã thông thạo các loại văn cử tử, 13 tuổi
thi đỗ đầu huyện, 16 tuổi đỗ đấu xứ Nghệ nên cũng có người gọi ông là xứ San.
Năm 1900, ông thi đỗ thủ khoa kì thi Hương ở trường Nghệ.
Từ nhỏ Phan Bội Châu đã sớm có
tinh thần yêu nước, ông đã tham gia rất nhiều các phong trào chống Pháp, như
khi kinh thành Huế thất thủ ông đã tổ chức một đội “thí sinh quân” gồm 60 người
để ứng nghĩa lời kêu gọi của chiếu Cần Vương. Nếu như vào năm 1900, sau khi thi
đỗ giải nguyên ông chính thức bước vào con đường hoạt động cách mạng thì năm
1905 đánh dấu sự huy hoàng trong cuộc đời hoạt động của ông. Sự huy hoàng ấy gắn
liền với phong trào Đông Du do ông lãnh đạo từ 1905 đến 1908. Trong thời gian
này ông đã tổ chức gần 200 thanh niên yêu nước xuất dương sang Nhật học tập nhằm
đào tạo ra những nhân tố mới về cả tư tưởng lẫn cách thức để mưu đồ đánh Pháp
giành độc lập. Mặc dù phong trào chỉ tồn tại trong khoảng 3 năm (1905 – 1908) nhưng đã góp phần tạo nên một
luồn gió mới cho các phong trào chống Pháp sau khi tiếng súng trên núi Vụ Quang
đã tắt. Trải qua nhiều biến cố, từ năm 1911 đến 1926, con đường cách hoạt động
cách mạng của ông tuy có nhiều lần gián đoạn và có những sự biến đổi về mặt tư
tưởng, nhưng lòng yêu nước ý chí quyết tâm đánh Pháp giành lại nền độc lập
trong ông không bao giờ thay đổi. Từ năm 1926 trở đi, ông bị cách ly với thực tế
đấu tranh của dân tộc, tuy vậy ông vẫn cố vươn lên, hy vọng tiếp tục hoạt động
cứu nước. Nhưng năm tháng cuối đời, Phan Bội Châu vẫn chan chứa biết bao nỗi niềm
thế sự. Cho đến trước ngày mất ngày 29.10.1940, tại căn nhà dốc ở Bến Ngự, ông
vẫn có lời “chúc phường hậu tử tiến mau”.
Phong trào Đông Du ở Nam Kì
Là “con đẻ” của Duy Tân hội, với
sự hoạt động tích cực khắp cả nước của các hội viên, phong trào Đông Du bắt đầu
phát triển mạnh mẽ vào những năm đầu của thế kỉ XX. Nhưng khi bắt đầu phong
trào Đông Du, số lượng người tham gia của Nam kì hầu như là không. Trong hồi kí
của mình Phan Bội Châu viết “Du học tuy chưa được bao nhiêu người nhưng Trung
Kì, Bắc Kì đã thấy có người, không bảo là không ảnh hưởng. Duy chỉ có Nam Kì
còn vắng ngắt nên tính cách vận động mới xong”.
Sau khi tính kế đưa sự ảnh hưởng
của phong trào Đông Du ở Nam Kì, Phan Bội Châu đã cho dịch và in “Ai cáo Nam Kì” dùng làm tài liệu vận động nhân dân Nam Kì
theo Đông Du. Với chỉ 4 câu khởi đầu của bài, nhưng đã tác động cực kì to lớn đến
nhân dân Nam Kì:
Than ôi! Lục tỉnh Nam Kì!
Ngàn năm cơ nghiệp còn gì hay
không?
Mịt mù một giải non sông,
Hỡi ai, ai có đâu lòng chăng ai?…
Từ khi được sự vận động của cụ,
nhân dân Nam Kì bắt đầu biết đến và bắt đầu tham gia phong trào. Trong hồi kí,
cụ viết “Nam Kì phụ lão vài người đến Hương Cảng, các thảy đều bí mật xuất cảnh
nên không dám ở lâu, yêu cầu được gặp ông”.
Trở lại việc Phan Bội Châu phải
tính cách vận động nhân dân Nam Kì, bên cạnh việc thực hiện nhiệm vụ quy tựu lực
lượng, cũng như các du học sinh cho việc xuất dương. Ta thấy còn có những
nguyên nhân từ lịch sử xa xưa. Bởi lẽ, đất Nam Kì là đất phát tích của các chúa
Nguyễn, nơi đây là vùng đất dồi dào về nhân lực và vật lực giúp ít rất lớn cho
việc Đông Du. Bằng chứng là trong giai đoạn phong trào Đông Du diễn ra từ năm
1905 đến 1908, chỉ tính riêng Nam Kì đã đóng góp tới 4 vạn tiền Đông Dương cho
quỹ du học. Trong niên biểu Phan Bội Châu viết “Gửi nhiều nhất là Nam Kì tiếp đến
là Trung Kì và Bắc Kì”. Với những sự đóng của Nam Kì mà phong trào Đông Du có
những nền tảng vững chắc hơn để thực hiện. Trong hồi kí Phan Bội Châu viết về
việc trù liệu vấn đề tài chính cho việc du học, lúc bấy giờ tài chính hạn hẹp,
sức tiếp tế trong nước rất hèn mỏng “duy chỉ có Nam Kì học phí có dồi dào chút
đỉnh, nhờ đó mà múc bên kia, xối bên nọ…”, Với những dẫn chứng trên đủ cho ta
thấy Nam Kì có những đóng góp không nhỏ cho Đông Du. Bên cạnh tài lực, thì con
người Nam Kì cũng có những tố chất nhất định, được Phan Bội Châu nhận xét trong
hồi kí như sau “Người Nam Kì có ý phác thành…”, tức người phương nam có sự
thành thực và chất phác, từ đó có thể vận động họ theo Đông Du và đào tạo ra lớp
kế cận gồm những du học sinh xuất sắc cho việc phục vụ mục tiêu cách mạng trong
thời gian sau.
Phong trào Đông Du ở phía Nam của
cũng sôi nổi không kém gì Trung và Bắc kì, trong những lần vào Nam ra Bắc của
mình Phan Bội Châu đã đưa những tư tưởng mới về Đông Du và sâu trong những làng
quê Nam Bộ, cho đến khi phong trào phát triển mạnh thì “ Nghe đâu ở Nam Kì, có
bậc cha mẹ sau khi hay tin con trốn đi du học hồi đêm, thì sáng hôm sau gia
đình hô hoán là con trúng gió đột ngột qua đời, rồi giả đám tang che mắt bọn quan
lại địa phương”. Điều này cho thấy nhân dân Nam Kì, đã rất có tinh thần tham
gia Đông Du trong đó Vĩnh Long được xem là lá cờ đầu.
Những nhân vật tiêu biểu ở Vĩnh
Long tham gia Đông Du
Như đã trình bày, trong phong
trào Đông Du ở Nam Kì Vĩnh Long được xem là lá cờ đầu. Xin đơn cử một vài dẫn
chứng để chứng minh điều này. Trong năm 1905, ở mỗi miền hình thành các trung
tâm tiễn chọn người đi du học miền Trung có Nghệ – Tĩnh, miền Bắc có Hà Nội –
Hà Đông và Nam Định ở Nam Kì có Gia Định, Vĩnh Long và Đồng Tháp. Theo Nguyễn
Thúc Chuyên trong quyển 157 nhân vật xuất dương trong phong trào Đông Du thì ở
Nam Kì số người xuất dương du học nhiều nhất là ở Vĩnh Long. Xin dẫn chứng bảng
thống kê sau:
Nam Kì Trung Kì Bắc Kì
Tỉnh Số lượng Tỉnh Số lượng Tỉnh Số lượng
Vĩnh Long 23 Thanh
Hóa 05 Hà Nội 06
Đồng Tháp 09 Nghệ An 32 Hà Tây 04
Trà Vinh 03 Hà
Tĩnh 13 Nam
Định 08
Cần Thơ 02 Huế 02 Thái
Bình 01
Kiên Giang 02 Quảng
Nam 07 Bắc Ninh 04
Tp. Hồ Chí Minh 04 Quảng
Ngãi 03 Hưng Yên 02
Long An 01 Bình
Định 01 Hải Phòng 01
Chưa xác định được tỉnh 03 Chưa xác định được tỉnh 04 Chưa xác định được tỉnh 07
Dựa vào bảng thống kê trên ta thấy
Vĩnh Long là tỉnh có số lượng người theo phong trào Đông Du xuất dương lớn thứ
hai cả nước chỉ sau Nghệ An là quê hương của phong trào này. Sau đây xin liệt
kê các nhân vật tiêu biểu của tỉnh Vĩnh Long tham gia phong trào Đông Du:
Trần Văn An (Trần Phúc An; Trần
Huy Thánh) (1897 – 1941). Quê quán: Tổng Bình Phú, Trà Ôn, Vĩnh Long. Xuất
dương sang Nhật năm 10 tuổi (1907). Ông được xếp vào học trường tiểu học
Koshikawa. Đến năm 1909 chuyển sang trường Rekiser.
Lâm Bình, quê quán Tam Bình Vĩnh
Long, xuất dương sng Nhật năm 1907. Ông có những đóng góp quan trọng trong việc
ủng hộ tiền bạc gửi sang Nhật cho du học sinh Đông Du.
Hoàng Văn Cát (Hoàng Văn Chất)
quê quán Tam Bình Vĩnh Long, là hội viên của hội duy tân Đông Du. Xuất dương
sang Nhật năm 1907. Có nhiều đóng góp quan trọng đặc biệt là ông đã gửi con
trai của mình ở lại Nhật học. Về sau hoạt động bị bại lộ, ông bị Pháp bắt giam
và qua đời trong ngục.
Lâm Cần, quê quán Tam Bình Vĩnh
Long là con trai của Lâm Bình, xuất dương sang Nhật năm 1907. Học ở trường Đồng
Văn thư viện (Dobun Shoin). Ông đã đóng góp 2000$ vào quỹ du học.
Nguyễn Xương Chi (Nguyễn Mạnh
Chi; Nguyễn Tổ Chi; Nguyễn Mạch Chi), quê quán tỉnh Vĩnh Long. Xuất dương sang
Nhật năm 1907, học trường Đồng Văn thư viện (Dobun Shoin). Năm 1913, sau khi bị
trục xuất khỏi Nhật, ông theo Cường Để sang châu Âu.
Hoàng Hữu Trí, quê quán tỉnh Vĩnh
Long. Xuất dương sang Nhật năm 1907. Ông là lớp đầu tiên của thanh niên Nam Kì
sang Nhật, được xếp vào lớp đặc biệt của trường Đồng Văn thư viện (Dobun
Shoin). Năm 1908 bị trục xuất khỏi Nhật.
Hoàng Công Đán, quê quán tỉnh
Vĩnh Long là một nhân sĩ tích cực của phong trào Duy Tân Đông Du ở Nam Kì. Xuất
dương sang Nhật năm 1908. Sau khi về nước ông đã vận động đóng góp được
200.000$ cho phong trào. Tháng 5/1908 bị Pháp bắt giam.
Trần Văn Định (1866 – 1911) hiệu
là Tri Chỉ quê quán Bình Phú, Trà Ôn, Vĩnh Long. Xuất dương sang Nhật năm 1907
cùng hai con trai là Trần Văn An và Trần Văn Thư. Sau khi về nước ông đã ra sức
vận động trên dưới 60 học sinh sang Nhật. Ông bị Pháp bắt năm 1910 nhưng sau đó
được thả ra do đấu tranh của nhân dân Nam Kì. Ông mất vào tháng 6/1911 do làm
việc quá sức khi vận động tuyên truyền cho phong trào Đông Du.
Hoàng Vĩ Hùng (1894 – 1917) quê
quán Tam Bình Vĩnh Long. Xuất dương sang Nhật năm 1907 khi mới 13 tuổi được xếp
vào trường tiểu học Rekisen. Ở đây ông nổi tiếng học giỏi không bao giờ rớt xuống
quá hạng 5. Sau khi bị trục xuất khỏi Nhật, trong quá trình hoạt động không may
ông bị lây bệnh truyền nhiễm và mất năm 23 tuổi.
Hoàng Hưng (Hoàng Văn Nghị) quê
quán Tam Bình Vĩnh Long, xuất dương sang Nhật năm 1907. Bị Pháp đày đi Côn Đảo
năm 1913. Sau khi được trả tự do ông trở về Vĩnh Long tiếp tục hoạt động và làm
quản lí tàu Vĩnh Thuận chạy đường thủy Vĩnh Long – Sài Gòn.
Lưu Do Hưng (Lưu Đỗ Hưng) quê
quán Trà Ôn Vĩnh Long. Xuất dương sang Nhật năm 1907 được xếp vào lớp đặc biệt
của trường Đồng Văn thư viện. Sau khi bị trục xuất khỏi Nhật ông theo Cường Để
sang Xiêm cuối năm 1908.
Lý Liễu (1892 – 1936), quê quán
Tam Bình Vĩnh Long. Xất dương sang Nhật năm 1907 lúc 15 tuổi. Được xếp vào lớp
Đặc biệt của trường Đồng Văn thư viện. Sau khi bị trục xuất khỏi Nhật ông sang
Trung Quốc tham gia chế tác đạn dược sau đó bị Pháp bắt và đem về nhà lao Hỏa
Lò Hà Nội. Sau đó ông vượt ngục sau một thời gian bôn ba với lòng luôn hướng về
cách mạng ông bỏ vợ con trở về Nam Kì hoạt động. Từ năm 1929 – 1934 thì bị Pháp
bắt và đày đi Côn Đảo và mất trong ngục năm 44 tuổi.
Bùi Mộng, quê quán Vĩnh Thanh
Vĩnh Long nay thuộc Cần Thơ. Xuất dương sang Nhật năm 1908, sau đó bị Pháp bắt,
sau một thời gian giam giữ ông được trả tự do. Cuối đời ông mất tại Cần Thơ.
Trần Ngọ quê quán Vĩnh Long. Xuất
dương sang Nhật năm 1907. Sau khi bị trục xuất khỏi Nhật ông sang Trung Quốc hoạt
động. Sau đó bị Pháp bắt đem về nhà giam Hỏa Lò sau đó bị đày sang Nam Mỹ.
Bùi Chi Nhuận hiệu Mộng Vũ quê
quán Nhật Tảo, Tân An, Vĩnh Long. Xuất dương sang Nhật năm 1907. Sau khi bị trục
xuất khỏi Nhật ông theo Phan Bội Châu sang Xiêm hoạt động sau đo bị Pháp bắt
đày đi Côn Đảo năm 1913.
Trần Chí Quân quê quán Trà Ôn
Vĩnh Long xuất dương sang Nhật Năm 1907, được xếp vào lớp đặc biệt của trường
tiểu học Koshikawa.
Phạm Văn Tâm quê quán Châu Thành
Vĩnh Long là một công chức giỏi tiếng Anh và tiếng Pháp. Ông tham gia phong
trào Đông Du và được Phan Bội Châu cử làm hội trưởng của hội “Việt Nam Thương
Đoàn công hội” một tổ chức có nhiệm vụ tiếp đón học sinh đưa sang Nhật. Năm
1910, ông bị Pháp bắt ở Tân Gia Ba cùng với Cường Để. Năm 1913, sau khi được trả
tự do. Ông là người có công đưa Cường Để đi Mỹ Tho và Vĩnh Long một cách an
toàn.
Đặng Bỉnh Thành mất năm 1914 quê
quán Trà Ôn Vĩnh Long. Ông giỏi tiếng Hán và tiếng Pháp. Xuất dương sang Nhật
năm 1907, ông là người chịu trách nhiệm in ấn tài liệu tuyên truyền cho phong
trào Đông Du gửi về Nam Kì. Ông bị Pháp bắt năm 1908 sau đó được trả tự do đến
năm 1914 ông lại bị Pháp bắt ở Hương Cảng sau đó đày ra Côn Đảo và mất trong ngục.
Hoàng Quang Thành quê quán Trà Ôn
Vĩnh Long. Xuất dương sang Nhật năm 1907, học trường Đồng Văn thư viện. Ông được
giao nhiệm vụ làm ủy viên của kỉ luật bộ ủy viên thuộc tổ chức nội bộ du học
sinh tại Nhật. Sau khi bị Pháp bắt ông được trả tự do đến năm 1913, ông về Vĩnh
Long và có công che giấu Cường Để ở đây.
Trương Duy Toản (1885 – 1957),
quê quán Tam Bình Vĩnh Long. Xuất dương sang Nhật năm 1907, ông làm phiên dịch
cho Phan Bội Châu và Cường Để ở Nhật. Sau khi bị trục xuất khỏi Nhật, ông được
Cường Để cử sang Pháp gặp Phan Chu Trinh sau đó bị Pháp bắt đưa về Khám Lớn Sài
Gòn. Về sau được trả tự do.
Lâm Tỷ quê quán Tam Bình Vĩnh
Long, xuất dương sang Nhật năm 1907, học trường Đồng Văn thư viện khoa Tiếng
Anh. Ông đã đóng góp 2.000$ vào quỹ du học. Năm 1913 bị Anh bắt tại Hồng Kông,
sau đó được trả tự do. Ông là người cùng với Cường Để hoạt động từ Anh sang
châu Âu.
Hoàng Hữu Văn, quê quán tỉnh Vĩnh
Long. Xuất dương sang Nhật năm 1908, học trường Đồng Văn thư viện. Sau khi bị
trục xuất khỏi Nhật ông trở về quê nhà và tiếp tục hoạt động.
Nguyễn Truyện (1892 – 1914) quê
quán Tam Bình Vĩnh Long. Xuất dương sang Nhật năm 1907. Sau khi bị trục xuất
ông sang Hương Cảng hoạt động. Sau đó bị Pháp bắt đem về nhà giam Hỏa Lò Hà Nội,
kết án chung thân. Tuy nhiên, ông giả vờ ốm và dùng dao tự rạch bụng tự tử năm
1914 khi đó ông 22 tuổi.
Nguyễn Thị Xuyến (Hiệu Trưng) quê
quán tỉnh Vĩnh Long. Là vợ của Hoàng Hưng xuất dương sang Nhật năm 1907, sau đó
bà được cử về Nam Kì làm nhiệm vụ liên lạc cho phong trào Đông Du. Nhà bà là
nơi liên lạc, tiếp đón và tổ chức đưa các thanh niên Nam Kì sang Nhật.
4. Kết luận
Trong sự thất bại và bế tắc của
khuynh hướng cứu nước phong kiến khi tiếng súng trên núi Vụ Quang không còn, những
năm đầu thế kỉ XX phong trào Đông Du đã mở ra những đường hướng mới, những tư
tưởng mới chống Pháp. Phong trào không chỉ có ảnh hưởng đến Trung Kì và Bắc Kì,
Đông Du do Phan Bội Châu dẫn dắt còn có ảnh hưởng đến Nam Kì đặc biệt là ở Vĩnh
Long. Trong những lần vào Nam ra Bắc của cụ Phan Bội Châu, ông đã từng đến Vĩnh
Long và gây dựng cơ sở phong trào Đông Du ở đây. Từ đó Vĩnh Long đã có những
người tham gia phong trào Đông Du như đã trình bày và có những đóng góp đáng kể
cho phong trào này. Bài viết chỉ dừng lại ở việc liệt kê các nhân vật tiêu biểu
chứ không đi sâu vào chi tiết từng nhân vật do hạn chế về tài liệu. Thiết nghĩ
việc đào sâu nghiên cứu về một nhân vật cụ thể trong các nhân vật tiêu biểu này
cũng là một hướng nghiên cứu hay. Mong rằng sẽ có những bài viết đi theo hướng
này.
Tài liệu tham khảo
Nguyễn Thúc Chuyên, 157 nhân vật
xuất dương trong phong trào Đông Du, NXB Nghệ An, 2007
Chương Thâu, Nghiên cứu Phan Bội
Châu, NXB Chính trị Quốc gia, 2004
Chương Thâu, Phan Bội Châu niên
biểu, NXB Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2001
Chương Thâu, Phan Bội Châu trong
dòng thời đại bình luận và hồi ức, NXB Nghệ An, 2007
Võ Hoàng Phong là sinh viên Khoa
Sư phạm chuyên ngành Sư phạm Lịch sử, Trường Đại Học Cần Thơ.
Bài do tác giả gửi cho Dự án
Nghiên cứu Quốc tế. Một phiên bản của bài viết đã được đăng trên trang Nghiên cứu
Lịch sử.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét