« Chúng ta đã bị mất Biển Đông
hay chưa ? ». Đó là tựa đề bài viết của giám đốc tổ chức Sáng kiến Minh bạch
Hàng hải châu Á, ông Gregory B.Poling, trên trang web của Trung tâm Nghiên cứu
Chiến lược Quốc tế (CSIS) ngày 11/04/2017.
Theo chuyên gia Poling, Trung Quốc
đang ngày càng có nhiều quyền lực trên Biển Đông, nhờ vào các căn cứ có thể sử
dụng cho mục đích quân sự lẫn dân sự tại quần đảo Trường Sa, và việc nâng cấp
các thiết trí quân sự ở Hoàng Sa. Bắc Kinh nhất quyết bảo vệ « quyền lịch sử »
rộng rãi nhưng lại được định nghĩa một cách mơ hồ của mình, về « đường lưỡi bò
» chín đoạn, vốn vi phạm luật pháp quốc tế.
Trong khi đó tân chính quyền Mỹ vẫn
chưa có chiến lược rõ ràng về Biển Đông, để lại những dấu hỏi lớn về sự cam kết
của Washington trong khu vực. Và ngoại trừ Hà Nội, các nước Đông Nam Á khác có
yêu sách chủ quyền tại Biển Đông, trước những diễn biến gần đây đã có những phản
ứng khác nhau – từ thái độ chấp nhận thua cuộc ở Manila, đến ý định nhắm mắt
cho qua của Jakarta và Kuala Lumpur.
Mặc dù trong chín tháng vừa qua
Trung Quốc không leo thang mạnh mẽ lắm, nhưng chưa bao giờ cán cân ở Biển Đông
nghiêng hẳn về Bắc Kinh như lúc này, với chiến lược bậc thầy của Trung Nam Hải.
Tình hình này khiến các nhà phân tích phải tự hỏi, liệu Hoa Kỳ và các quốc gia
có cùng quan điểm đã thua trận trong cuộc chiến đấu hay không. Phải chăng bây
giờ là lúc Mỹ ra đi, bỏ lại các nước Đông Nam Á phải tự chống chọi, trong cuộc
chiến không cân sức với Trung Quốc ?
Một máy bay J-11 của TQ nhìn thấy
trên phi đạo ở đảo Phú Lâm ngày 29/03/2017.
Biển Đông chưa được quan tâm đúng
mức
Một lý do chính cho sự yếu kém thấy
rõ của Mỹ và các nước khác trong khu vực, là đa số người Mỹ vẫn chưa hiểu được
tại sao Washington phải quan tâm đến Biển Đông. Ngay cả trong chính phủ, câu trả
lời cũng bất nhất giữa các cơ quan với nhau, và trong nội bộ từng cơ quan. Làm
thế nào Hoa Kỳ và các đối tác có thể theo đuổi một chiến lược dẫn đến thành
công, hoặc thừa nhận thất bại, nếu họ không thể đồng ý với nhau về những gì được
coi là chiến thắng ?
Chính quyền Obama đã duy trì một
danh sách khá logic về các lợi ích của Mỹ tại Biển Đông : bảo vệ trật tự dựa
trên cơ sở luật pháp, duy trì an ninh khu vực (trong đó có sự an toàn của các đồng
minh Mỹ), và tự do hàng hải. Tiếc rằng cũng như nhiều chính sách châu Á khác, đội
ngũ của ông Obama chứng tỏ có tầm nhìn chiến lược mạnh mẽ, nhưng trong việc giải
thích và áp dụng thì lại yếu ớt. Cũng giống như khái niệm xoay trục được định
nghĩa qua các sáng kiến an ninh, mặc dù đã tốn rất nhiều thời gian cho các nỗ lực
kinh tế, ngoại giao và văn hóa xã hội, cuộc tranh luận về Biển Đông vẫn bị đè nặng
bởi lý giải sai lầm rằng đây là sự ganh đua giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc về quân sự.
Tranh chấp Biển Đông không phải
là vấn đề song phương Mỹ-Trung, và không thể giải quyết bằng cách mặc cả giữa
Washington và Bắc Kinh. Biển Đông cũng không phải chủ yếu là sự đối đầu quân sự,
và như vậy không thể có giải pháp quân sự.
Lính Mỹ trên hàng không mẫu hạm
USS Carl Vinson, 08/04/2017.
Điều này không có nghĩa là quân đội
Trung Quốc không nhìn thấy một mệnh lệnh chiến lược mạnh mẽ trong tranh chấp Biển
Đông, hay năng lực bành trướng của Trung Quốc đang mở rộng từ các đảo nhân tạo,
sẽ không gây khó khăn cho cuộc chiến đấu của Hoa Kỳ trong một cuộc xung đột tiềm
năng. Đó là những nhân tố góp phần trong tranh chấp, cũng như việc tranh giành
tài nguyên, tuyến đường hàng hải chiến lược và nhiều vấn đề khác. Nhưng đây
không phải là gốc rễ của tranh chấp Biển Đông, cũng không là lợi ích cơ bản của
Hoa Kỳ và các nước bạn.
Như chuyên gia Bill Hayton đã lập
luận một cách đầy thuyết phục, tranh chấp Biển Đông thực chất là sự ganh đua của
các chủ nghĩa dân tộc. Đặc biệt là luận điệu về các quyền của Trung Quốc, đang
thách thức mọi sự kiện lịch sử, luật pháp quốc tế và lợi ích của các nước láng
giềng. Bắc Kinh cho là mình có quyền và quyết tâm độc chiếm Biển Đông bằng mọi
phương tiện cần thiết. Việc này đã trực tiếp đe dọa lợi ích của Hoa Kỳ, mà lợi
ích này vượt xa lên trên khả năng tự do hoạt động của Hải quân Mỹ tại Biển
Đông.
Đó chính là một hệ thống quốc tế
rộng rãi – gọi là « trật tự dựa trên luật pháp » vẫn thường được chính quyền
Obama nêu ra. Trong đó các Nhà nước đều bình đẳng với nhau theo các quy định và
tiêu chuẩn đã cùng thỏa thuận ; đàm phán cũng như thủ tục trọng tài thay thế
cho cưỡng bức và vũ lực - được coi là phương cách giải quyết tranh chấp.
Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật
Biển (UNCLOS) và các luật lệ theo tập quán quốc tế làm chỗ dựa cho công ước, là
những thành phần chủ yếu của hệ thống này. Tất cả đã bị thiệt hại nghiêm trọng
bởi những hành vi nhằm xác quyết chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông. Các quốc
gia khác sẽ nhanh chóng nhận ra rằng họ bị bất lợi khi nghiêm túc tôn trọng
UNCLOS, trong khi Trung Quốc bất chấp.
Người Việt và Philippines biểu
tình tại Manila chống TQ xâm chiếm Biển Đông.
Hậu quả : Biển Đông sắp mất
Tiếc thay, trật tự dựa trên cơ sở
luật pháp thì trừu tượng, không giúp bán được báo. Sự yểm trợ quân sự của Hoa Kỳ
và các cường quốc bậc trung khác như Úc, Nhật Bản, Ấn Độ hết sức quan trọng để
giúp các nước Đông Nam Á không bị Trung Quốc đè bẹp.
Hoa Kỳ phải đóng vai trò chủ đạo
để răn đe thái độ hiếu chiến và các hành động leo thang quan trọng khác của
Trung Quốc - như đã từng lên tiếng cảnh cáo ý định xây dựng trên bãi cạn
Scarborough mùa xuân vừa rồi. Các quốc gia đối tác cần tìm cách tăng cường năng
lực cho Hải quân và tuần duyên các nước Đông Nam Á, để họ có thể bảo vệ vùng biển
tranh chấp, vốn đang phải đối mặt với áp lực chưa bao giờ tăng cao đến thế của
Trung Quốc. Nhưng những nỗ lực an ninh này nhằm cải thiện tình hình tại chỗ, chứ
chưa phải là hồi kết.
« Chiến thắng » tối hậu trên Biển
Đông cho Hoa Kỳ và các đối tác là thuyết phục được Trung Quốc điều chỉnh những
yêu sách của mình cho phù hợp với luật pháp quốc tế, và bình đẳng với các nước
láng giềng. Đó là một thử thách khổng lồ, đòi hỏi phải có một chiến dịch ngoại
giao và luật pháp tập trung vào việc vạch trần tính bất hợp pháp của các yêu
sách Trung Quốc, khiến Bắc Kinh phải mang tai tiếng.
Quan trọng nhất là phải có những
cam kết dài hạn. Việc vạch mặt chỉ tên và tố cáo để Trung Quốc tỏ ra khiêm tốn
hơn, có thể phải mất cả một thập niên. Trung Quốc không phải là miễn nhiễm trước
áp lực quốc tế hay trước cái giá phải trả cho việc trở thành một kẻ ở ngoài
vòng pháp luật, nhưng sức kháng cự của họ rất lớn.
Hoa Kỳ và Philippines muốn tập hợp
một liên minh quốc tế cho nỗ lực này. Trước hôm Manila chiến thắng ở Tòa án Trọng
tài Thường trực La Haye tháng 7/2016, một số đáng kể các quốc gia trên thế giới
đã kêu gọi Trung Quốc tuân thủ phán quyết của tòa. Nhưng liên minh này đã tan
rã sau khi tổng thống Rodrigo Duterte quyết định từ bỏ việc sử dụng áp lực quốc
tế, với hy vọng Bắc Kinh sẽ đáp ứng một cách hòa hoãn hơn.
Lính Philippines trên đảo Thị Tứ.
Quyết định của ông Duterte chủ yếu
do quan điểm tư tưởng của ông, nhưng được biện minh là do Hoa Kỳ sẽ không bảo vệ
Philippines chống lại Trung Quốc. Đây là một vết thương tự gây ra, có thể tránh
được nếu chính quyền Obama nói rõ là hiệp ước quân sự hỗ tương giữa hai nước có
thể áp dụng, để hỗ trợ cho quân đội và tàu chiến của Philippines trong vùng biển
tranh chấp.
Trong khi được Duterte chìa ra
cành ô liu và chính quyền Trump lo tập trung vào những hồ sơ khác, Trung Quốc
tiếp tục củng cố các lợi ích của mình. Nhờ có các hải cảng và cơ sở hạ tầng đi
kèm, số lượng tàu Trung Quốc tăng lên đáng kể tại khu vực nửa phía nam của đường
9 đoạn. Trong khi đội quân tiên phong này liên tục lấn chiếm vùng biển của các
nước láng giềng, Trung Quốc tăng cường hơn bao giờ hết khả năng can thiệp, để
ngăn trở các nước Đông Nam Á sử dụng vùng biển và đáy đại dương mà luật pháp quốc
tế bảo đảm cho họ.
Nếu không có gì thay đổi, Trung
Quốc trên thực tế sẽ kiểm soát toàn bộ vùng biển, vùng trời và tài nguyên của
Biển Đông. Hải quân Hoa Kỳ có thể tiếp tục tiến hành các hoạt động ở vùng biển
tranh chấp, làm ngơ trước những hành vi quấy nhiễu của đối tác Trung Quốc,
nhưng sẽ không dễ chịu chút nào cho các nước Đông Nam Á cũng đòi hỏi chủ quyền Biển
Đông. Việt Nam có thể tiếp tục phản đối thực tế mới này, nhưng những nước khác
có cơ phải thích ứng với thực trạng tại chỗ. Hậu quả là hệ thống quốc tế và trật
tự khu vực châu Á sẽ thường xuyên bị thay đổi theo hướng gây thiệt hại nặng nề
cho lợi ích của Mỹ.
Tàu TQ bảo vệ giàn khoan Hải
Dương Thạch Du 981 kéo vào Hoàng Sa năm 2014.
Thế nên, phải chăng Hoa Kỳ và các
nước bạn đã bị mất Biển Đông ? Câu trả lời là chưa. Nhưng họ đang đánh mất, và
mất một cách nhanh chóng.
Để thay đổi tình hình, trước tiên
Washington cần phải nhìn nhận tầm quan trọng của hồ sơ này. Chính quyền Trump cần
có chính sách rõ ràng và mạnh mẽ để bảo vệ lợi ích của Mỹ, đặc biệt là trật tự
dựa trên luật pháp tại Biển Đông. Thứ đến, chính phủ Hoa Kỳ cần nắm lấy cơ hội,
khi chính quyền Duterte nhận ra rằng Bắc Kinh không nhượng bộ như họ vẫn hy vọng
- có lẽ qua lệnh cấm đánh cá trong khu vực, kể cả ở bãi cạn Scarborough kể từ
ngày 1/5 của Trung Quốc.
Để đặt nền móng cho việc này,
chính quyền ông Trump phải làm một việc từ lâu được chờ đợi : nói rõ rằng theo
hiệp ước hỗ tương giữa hai nước, Mỹ sẽ yểm trợ lực lượng Philippines tại Biển
Đông, vì vùng biển này thuộc Thái Bình Dương, theo điều V của hiệp ước. Như vậy
công việc khó khăn là tái lập lực lượng quốc tế đối phó với yêu sách của Trung
Quốc mới có thể khởi đầu.




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét