Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 - Photo of RFA
Vào ngày 4 tháng 7, Thứ trưởng Bộ tài nguyên và môi trường
(Bộ TNMT), ông Nguyễn Linh Ngọc khẳng định vật liệu mà Bộ TN-MT cho phép nhà
máy nhiệt điện Vĩnh Tân 1 nhận chìm không phải là xỉ than, chất thải của quá
trình chạy nhiệt điện mà là vật liệu nạo vét tại khu vực cảng, gồm cát, bùn của
ô quay tàu trước cảng.Những vật chất được cấp phép nhấn chìm xuống biển có thật sự
không phải là chất thải nguy hại?
Ngấm trong bùn đất
Năm ngày sau khi Thứ trưởng Bộ TNMT cấp phép số
1517/GP-BTNMT cho phép Công ty TNHH Điện lực Vĩnh Tân 1 được nhận chìm 1 triệu
m3 bùn thải xuống vùng biển xã Vĩnh Tân, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, Tổng
công ty phát điện 3 (EVNGENCO 3) hay còn gọi là nhà máy nhiện điện Vĩnh Tân 2
cho biết đang xúc tiến xin giấy phép đổ xuống biển Bình Thuận 2,4 triệu m3 bùn
cát thải sau khi nạo vét.
Thông tin này gây lo ngại rất lớn cho các chuyên gia môi trường
và những người quan tâm đến môi trường biển. Qua những diễn đàn và các trang mạng
xã hội, họ đồng loạt lên tiếng kêu gọi dừng ngay dự án nhấn chìm bùn thải vì
cho rằng lượng bùn thải khổng lồ đó sẽ bức tử hệ sinh thái biển của Bình Thuận.
Để phản hồi bức xúc của công luận, Thứ trưởng Bộ TN-MT phát
biểu tại buổi giao ban báo chí ngày 4 tháng 7 rằng vật liệu nhận chìm không bao
gồm xỉ than, chất thải của quá trình chạy nhiệt điện và cơ sở pháp lý của việc
nhận chìm chất thải đã được quy định trong Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển
1982- UNCLOS 1982.
Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 tại tỉnh Bình Thuận đi vào hoạt
động chính thức năm 2015, mỗi ngày sản xuất hơn 23 triệu kWh. Còn dự án xây dựng
Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 1 được khởi công vào sáng ngày 18/7/2015, có công
suất 1.200MW, dự kiến đi vào hoạt động trong năm 2018.
Với thời gian và khối lượng điện sản xuất như thế, Tiến sĩ
Nguyễn Văn Khải, chuyên gia môi trường từ Hà Nội, khẳng định không thể cho rằng
chất bùn thải được cấp phép “nhấn chìm” xuống biển Bình Thuận là không chứa chất
thải từ quá trình vận hành sản xuất điện của nhà máy.
“Khi mà những cơn mưa, lũ xảy ra, nước chảy từ đất liền ra
biển. Khi chảy như thế thì nó cuốn theo tất cả rác, ngay cả thuốc trừ sâu, thì
ngay cả nước bao gồm rác chảy ra, nó đã mang theo rất nhiều chất độc hại.
Vậy thì ở những nhà máy này, trong quá trình người ta đang
xây dựng, đã xây dựng xong, có thể chưa vận hành thì cũng đã có rất nhiều loại
rác.
Cái thứ hai, nếu người ta chạy thì phải có than, phải có nơi
để than, rồi chất thải, và chúng ta thừa biết rằng rác thải của nhà máy nhiệt
điện nó có những gì. Thế và, nước mưa nó chảy thì nó không chừa chỗ nào.”
Dựa trên cơ sở hoá học, ông cho biết khi trời mưa, chất độc
trong than chảy ngấm vào đất, rồi khi đốt thì những khí trong đó như SO2. NO2,
các kim loại nặng như Niken, Crôm sẽ bay tản ra vùng chung quanh, hoặc tích tụ thành
mây để mưa xuống. Nói chung tất cả những chất độc hại từ bụi xỉ than sẽ
ngấm vào đất và bùn cát.
Theo các nhà khoa học phản biện trên báo chí trong nước, việc
nhận chìm khối lượng chất nạo vét gần 1 triệu m3 vừa được Bộ Tài Nguyên- Môi
trường cấp phép và 2,4 triệu m3 đang được đề nghị là nguy cơ đe doạ trực tiếp hệ
sinh thái biển.
Chất nạo vét hay bùn thải?
Tuy nhiên, ông Nguyễn Xuân Tùng – vụ trưởng Vụ Chính sách và
pháp chế, đại diện Tổng cục Biển và hải đảo – Bộ Tài nguyên và môi trường, có mặt
tại buổi toạ đàm “Hòn Cau, Biển và Lời nguyền…” tổ chức ở Nha Trang ngày 15
tháng 7 cho biết “vật chất” nạo vét cảng biển của Điện lực Vĩnh Tân 1 được Bộ cấp
phép cho “nhận chìm” xuống vùng biển Tuy Phong khác với bùn thải.
Giải thích sự khác nhau dựa trên hướng dẫn của Tổ chức Hàng
hải Thế giới, ông cho biết.
“Chất nạo vét cơ bản là chất lắng đọng từ tự nhiên bao gồm
các thành phần chủ yếu như cát, sỏi, đá và các chất hữu cơ tự nhiên. Thế còn
bùn thải là chất lắng đọng từ quá trình xử lý đất thải. Trong nghị định thư
Luân Đôn 1996 có 1 danh mục qui định có 8 nhóm chất để xem xét nhận chìm xuống
biển. Trong đó họ cũng phân biệt chất nạo vét và bùn thải.”
Vị này nói thêm rằng thành phần của chất nạo vét đã được
phân tích trong dự án nhận chìm bùn cát thải hoàn toàn không có chất ô nhiễm và
rất bình thường trên thế giới. Những thành phần chất khác đều dưới ngưỡng cho
phép.
4 nhà máy nhiệt điện
Ông Phạm Văn Chi, Nguyên chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hoà, cho
biết tình trạng thực tế hiện nay ở huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận có 4 nhà
máy điện với tổng công suất là 4,400 MW.
“Thế thì tôi chỉ nói rằng 1 nhà máy ở Khánh Hoà, 2,400MW là
chúng tôi đã toát mồ hôi. Mà tôi đang kiến nghị với địa phương, chính phủ, chỉ
nên đầu tư tốt nhất là 600 MW, là 1 trong 4 tổ máy. Nhưng mà người ta đã xây dựng
hai giai đoạn, giai đoạn đầu là 1,200 MW và giai đoạn 2 là 2,400 MW và hình như
đã được phép.
Ba cái ô nhiễm quan trọng nhất đối với các nhà máy điện chạy
bằng than là họ lợi dụng vùng biển của chúng ta để vận chuyển 1 lượng than rất
lớn bằng cách nạo vét (nếu như vùng cần nạo vét) để đưa được tàu lớn chở than.
Than của Việt Nam mình gần như là người ta không sử dụng mà
người ta phải sử dụng than của Malaysia, của Úc, có hàm lượng Carbon cao hơn.
Và tôi cho rằng nếu chúng ta lấy loại than tốt nhất là khoảng 85% Carbon, 15 %
và xỉ và các loại không cháy được, thì như vậy nếu nhà máy Vĩnh Tân 2 khoảng
1,200 MW thì nó phải mất 600 tấn than/1 giờ và 14,400 tấn than/ngày.”
Đồng thời, ông đưa ra bài toán của lượng xỉ tối thiểu 1 năm
thải ra và phủ khắp mặt bằng dài 1 cây số, rộng nửa cây số và có chiều cao khoảng
1m57. Khối lượng này khi gặp mưa sẽ ngấm vào đất và bùn cát. Do đó theo ông, vật
liệu “nạo vét” của 4 nhà máy đó sẽ bao gồm tất cả những bụi xỉ vả độc hại đã ngấm
sâu trong bùn đất.
Đổ rác hay nhận chìm?
Khoản 5, Điều 1 của UNCLOS 1982 giải thích thuật ngữ “nhận
chìm” (immersion) là “mọi sự trút bỏ có ý thức xuống biển các chất thải hoặc
các chất khác từ các tàu thuyền, phương tiện bay, giàn nổi hoặc công trình khác
được bố trí ở biển.”
Công ước vừa nêu cũng ghi rõ thuật ngữ “nhận chìm” không nhằm
vào: Việc vứt bỏ các chất thải hoặc các chất khác được sản sinh trực tiếp hoặc
gián tiếp trong việc khai thác bình thường của tàu thuyền, phương tiện bay,
giàn nổi hoặc các công trình khác được bố trí trên biển, cũng như các thiết bị
của chúng…
Tuy nhiên, theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Khải, khi được trả lời
chúng tôi về cơ sở pháp lý dựa theo UNCLOS 1982 và Luật Môi trường Việt Nam,
ông chỉ nói ngắn gọn rằng: “Cái chuyện người ta làm như thế nào mới quan trọng.”

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét