Nguồn: Nien-chung Chang Liao, “The sources of China’s
assertiveness: the system, domestic politics or leadership preferences?”
International Affairs 92 (4), pp. 817-833.

Kể từ cuối những năm 1990, việc Trung Quốc tăng cường gắn kết các nước láng giềng và các tổ chức quốc tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình “trỗi dậy hòa bình” thành cường quốc của Trung Quốc.[1] Tuy nhiên, kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã bắt đầu xác định tầm quan trọng lớn hơn đối với việc bảo vệ lợi ích quốc gia cốt lõi và khẳng định yêu sách chủ quyền trên biển của mình. Các học giả mô tả cách tiếp cận mới của Trung Quốc là chính sách đối ngoại mang tính “quyết đoán”.[2] Trung Quốc đã bắt đầu can thiệp vào các hoạt động do thám của Mỹ, và trong các tranh chấp lãnh thổ ở phía Nam và trên biển Hoa Đông, Bắc Kinh đã thể hiện hành vi cứng rắn chưa từng thấy trong nhiều năm qua, khiến cho nhiều nước láng giềng cảm thấy lo ngại.[3]
Mặt khác, Trung Quốc đã và đang ngày càng tích cực chủ động
trong các vấn đề như chống cướp biển ở vịnh Aden, cải cách tài chính và tiền tệ,
và hợp tác quốc tế liên quan đến cuộc nội chiến Libya.[4] Bắc Kinh trở nên tham
vọng hơn trong việc lồng ghép các mục tiêu trong chính sách đối ngoại của mình
với mục đích được nhìn nhận ở vị thế ngang hàng với Washington.[5] Trong khi
đó, giới ngoại giao Trung Quốc dường như đánh giá Trung Quốc là một cường quốc
lãnh đạo thế giới với những lợi ích và trách nhiệm ngày càng lớn, và đang dần từ
bỏ cách tiếp cận bảo thủ và ít lộ diện (giấu mình chờ thời) trong các vấn đề đối
ngoại vốn là đặc trưng cho giai đoạn đầu của kỷ nguyên đổi mới.[6]
Về tầm quan trọng của việc Trung Quốc trỗi dậy trong một vài
thập niên trở lại đây, chúng ta bắt buộc phải lý giải được tại sao Bắc Kinh lại
bắt đầu theo đuổi chính sách đối ngoại quyết đoán hơn. Có rất nhiều khả năng
khi xem xét câu hỏi này. Một số nhà quan sát tập trung vào tính cách của các
nhà lãnh đạo Trung Quốc.[7] Những người khác lại nhấn mạnh vào các vấn đề phối
hợp trong quá trình hoạch định chính sách vốn chịu sự chi phối của nhiều yếu tố
trong nước.[8] Tuy nhiên, một số khác nữa lại lí giải rằng các hành vi bên
ngoài của Bắc Kinh có liên quan đến sự gia tăng sức mạnh kinh tế và quân sự của
Trung Quốc.[9] Mỗi yếu tố này lại có giá trị khác nhau nhất định trong từng cấp
độ phân tích – từ cấp độ cá nhân cho tới cấp độ chính trị nội bộ, cuối cùng là
cấp độ tổng thể hệ thống.[10] Cả ba yếu tố – chủ thể, bối cảnh trong nước và
các điều kiện mang tính hệ thống – đều góp phần đưa đến câu trả lời gần như hoàn
chỉnh. Nhưng trong một số trường hợp nhất định sẽ có nhân tố này hay nhân tố
kia nổi bật hơn.[11] Một nhóm các yếu tố cụ thể có thể đưa đến kết luận về những
nguyên nhân thay đổi sang tính chất quyết đoán của Trung Quốc, hoàn toàn khác
biệt với kết luận dựa trên những nhóm nguyên nhân khác – và do đó đưa đến những
dự đoán khác nhau về hành vi trong tương lai của Trung Quốc.
Bài viết này xem xét từng mức độ lí giải được đề cập ở trên
và kết luận rằng chính sách đối ngoại quyết đoán hơn của Trung Quốc kể từ năm
2009 chủ yếu là do nhận thức của giới tinh hoa và sự lựa chọn của các nhà lãnh
đạo. Những kết luận này cho thấy các yếu tố cá nhân có thể đóng một vai trò
quan trọng trong việc giải thích hành vi bên ngoài của Trung Quốc, đặc biệt là
khi nhận thức của giới tinh hoa chính trị đã ăn sâu vào sự lựa chọn của các nhà
lãnh đạo.
Với cương vị lãnh đạo mới của Trung Quốc, Tập Cận Bình bắt đầu
gây ảnh hưởng mạnh mẽ lên vai trò của Trung Quốc trong nền chính trị toàn cầu,
điều quan trọng là phải xác định được những nguyên nhân đằng sau chính sách đối
ngoại quyết đoán hơn đó nhằm xác định những hệ lụy tiềm tàng đối với khu vực và
toàn cầu. Bài phân tích này có thể nâng cao hiểu biết của chúng ta về lý do tại
sao cách lí giải truyền thống có thể sẽ không có khả năng dự báo về hành vi
trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc nếu không tính tới vai trò của người
lãnh đạo quốc gia đó. Vì vậy, nghiên cứu các lý do đằng sau hành vi bên ngoài
quyết đoán của Trung Quốc không chỉ giúp cải thiện mô hình lý thuyết hiện có trong
quan hệ quốc tế và phân tích chính sách đối ngoại, mà còn cho chúng ta nắm bắt
được những ngụ ý chính sách lớn hơn về sự trỗi dậy của Trung Quốc.
Lí giải sự quyết đoán mới của Trung Quốc
Để hiểu được hành vi với bên ngoài của Cộng hòa Nhân dân
Trung Hoa, nghiên cứu trước đó đã xem xét cả hai yếu tố quốc tế và trong nước.[12]
Thách thức khi phân tích chính sách đối ngoại chính là phải xem xét kỹ hơn những
điều kiện mà trong đó hoặc yếu tố trong nước hoặc yếu tố quốc tế chiếm ưu thế.
Khi nghiên cứu nhằm lí giải sự quyết đoán của Trung Quốc, chúng ta nên bắt đầu
bằng việc xem xét sức ảnh hưởng có thể có của các nguyên nhân chung như các
nhân tố ở cấp độ hệ thống rồi sau đó tập trung vào cấp độ đơn vị và cấp độ cá
nhân – những yếu tố vừa tính tới đặc trưng của Trung Quốc vừa có khả năng áp dụng
cho các nước khác.
Những lí giải ở cấp độ hệ thống
Những lí giải ở cấp độ hệ thống bắt nguồn từ giả thuyết rằng
sự quyết đoán của Trung Quốc về cơ bản được quy định bởi những áp lực quốc tế.
Những áp lực này, chẳng hạn như sự phân bổ quyền lực, mạng lưới liên minh hay
mô hình thương mại toàn cầu… có thể được xác định theo đặc tính hệ thống do những
nhân tố này có ảnh hưởng mạnh mẽ và phổ quát đối với chính sách đối ngoại của bất
kì quốc gia nào. Do đó, càng ủng hộ nhiều cho cách tiếp cận phân tích các biến
số hệ thống của những áp lực nói trên, chúng ta càng phát triển được một lý
thuyết mà có thể ứng dụng đối với nhiều quốc gia khác nhau.
Hiểu theo một phương diện nào đó, sự quyết đoán của Trung Quốc
chính là một phản ứng đối với những thay đổi trong việc phân bổ quyền lực quốc
tế, đặc biệt là từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.[13] Một phần
nhờ có vai trò “cường quốc kinh tế” của Trung Quốc và sự suy thoái sau khủng hoảng
đã làm ảnh hưởng hầu hết các nước phương Tây, Trung Quốc nổi lên như một cường
quốc dẫn đầu với những lợi ích và trách nhiệm mới. Tất yếu, Bắc Kinh ngày càng
có nhu cầu được các nước khác tôn trọng lợi ích quốc gia và vị thế quốc tế của
mình. Trong những trường hợp này, có thể xác định được ít nhất ba cách lí giải
hợp lý ở cấp độ hệ thống cho sự quyết đoán của Trung Quốc. Đó là sức mạnh quốc
gia, mối đe dọa từ bên ngoài và lợi ích quốc gia.
Sự quyết đoán của Trung Quốc là kết quả của sự gia tăng đột
ngột sức mạnh bản thân
Có lẽ cách giải thích hợp lý nhất cho chính sách đối ngoại cứng
rắn hơn của Bắc Kinh là sự chuyển dịch mạnh mẽ đã diễn ra trong cơ cấu phân bổ
quyền lực quốc tế: khi Mỹ đang chao đảo sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
còn Trung Quốc vẫn tiếp tục tăng trưởng. Đặc biệt, sự gia tăng sức mạnh kinh tế
của Trung Quốc và việc mất niềm tin vào khả năng lãnh đạo của Mỹ đã tạo ra một
tinh thần quyết đoán mới của Bắc Kinh đối với Mỹ trong các lĩnh vực chính trị
và an ninh.[14] Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã mang đến cơ hội hợp lý
cho các nhà lãnh đạo Trung Quốc đầy lý trí và toan tính theo đuổi mục tiêu và lựa
chọn của họ[15]. Khi Trung Quốc trở nên mạnh mẽ hơn, nó có xu hướng triển khai
chính sách đối ngoại tốn kém và mang tính đối đầu nhiều hơn, và ngược lại. Như
Avery Goldstein đã ghi nhận:
Nếu sức mạnh tương đối của Trung Quốc gia tăng mạnh mẽ, hoặc
nếu Bắc Kinh cho rằng các quốc gia có khả năng nhất của hệ thống không còn quan
tâm hay tìm cách ngăn cản các sáng kiến của Trung Quốc… lúc đó Trung Quốc có thể
chuyển sang một chiến lược quyết đoán hơn nỗ lực tái định hình lại hệ thống quốc
tế theo mong muốn riêng của mình. Việc giảm bớt những thúc ép từ bên ngoài đối
với chính sách đối ngoại của Trung Quốc có thể là kết quả của một quá trình hiện
đại hóa kinh tế và quân đội nhanh tới mức không tưởng, đã đẩy Trung Quốc lên vị
thế siêu cường một cách nhanh chóng hoặc đối thủ cạnh tranh mạnh nhất của Trung
Quốc cho thấy họ không thể hoặc không muốn duy trì những cam kết quốc tế.[16]
Tuy vậy, lời giải thích như trên đơn giản là không tương
thích với những gì đã diễn ra trên thực tế kể từ năm 2008. Sức mạnh tương đối của
Trung Quốc chắc chắn được nâng cao kể từ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu,
nhưng nó vẫn chưa phải là lớn nhất.[17] Bắc Kinh đang đóng một vai trò quân sự
quan trọng, nhưng chưa đạt đến tầm có thể làm lu mờ những thành tựu quân sự của
Mỹ. Như hình 1 cho thấy, chi tiêu quốc phòng của Trung Quốc đã liên tục tăng từ
thời điểm bắt đầu thế kỷ XXI, nhưng vẫn chưa thể sánh được với chi phí của Mỹ.
Như Robert Ross nhận xét, “Trung Quốc vẫn chưa phát triển được khí tài quân sự
mới đáng kể đủ để có thể giải thích chính sách ngoại giao mới của mình.”[18]
Quan trọng hơn, không có bằng chứng nào cho thấy mối quan hệ trực tiếp giữa sự
gia tăng của nền kinh tế Trung Quốc và sự suy giảm kinh tế của Hoa Kỳ. Theo bất
kỳ cách đánh giá khách quan nào, Mỹ vẫn là nền kinh tế mạnh nhất thế giới trong
hầu hết các lĩnh vực.[19]
Sự quyết đoán của Trung Quốc là câu trả lời cho mối đe dọa
ngày càng lớn đối với lãnh thổ Trung Quốc
Thậm chí nếu sức mạnh của Trung Quốc không tăng đáng kể như
thế thì một chiến lược răn đe vẫn cần thiết vì các tranh chấp hàng hải căng thẳng
đe dọa đến những cam kết lâu dài của Bắc Kinh với tính toàn vẹn lãnh thổ của
Trung Quốc.[20] Thí dụ, Trung Quốc đã bắt đầu can thiệp đáng kể vào các hoạt động
do thám của Mỹ ở Biển Đông để phản đối cuộc tập trận chung Mỹ – Hàn Quốc ở Biển
Hoàng Hải, và phản đối Nhật Bản, Việt Nam và Philippines trong các tranh chấp
chủ quyền ở phía Đông và phía Nam Biển Đông. Theo lập luận này, lập trường cứng
rắn hơn của Trung Quốc trong vùng biển tranh chấp nhằm ngăn chặn các nước khác
thách thức nguyên trạng. Như Alastair Iain Johnston đã nhận xét, ‘để phản ứng lại
phương thức ngoại giao tích cực chủ động với việc các bên thiết lập ranh giới
pháp lý cho các yêu sách của họ trong khu vực’, Bắc Kinh đã bắt đầu ‘khẳng định
mức độ yêu sách của Trung Quốc để làm rõ cái mà họ có thể (và sẽ) bảo vệ bằng
biện pháp ngoại giao và biện pháp quân sự’.[21] Xu hướng quyết đoán này dường
như mang tính bị động thay vì mang tính chủ động, mang tính phòng thủ thay vì
mang tính tấn công.
Tuy nhiên, thật khó để tin vào lí do rằng các hành động của
Trung Quốc chỉ đơn thuần là phản ứng lại và phòng thủ, như trong một số trường
hợp, chính Trung Quốc chứ không phải bất kì bên nào khác phải chịu trách nhiệm
cho việc leo thang căng thẳng, đặc biệt là trong các tranh chấp trên biển.[22]
Ví dụ, sau vụ va chạm giữa một tàu đánh cá Trung Quốc và lực lượng bảo vệ bờ biển
Nhật Bản ở vùng biển ngoài khơi quần đảo Điếu Ngư/Senkaku vào năm 2010, Bắc
Kinh đã ngừng tiếp xúc cấp cao với Tokyo, ngừng xuất khẩu kim loại hiếm sang Nhật
và dung túng cho nhiều cuộc biểu tình lớn chống lại Nhật Bản. Tương tự, trong
tranh chấp với Philippines trên bãi cạn Scarborough, Bắc Kinh không chỉ tiến
hành tập trận trong khu vực tranh chấp mà còn hạn chế nhập khẩu nông sản từ
Philippines và ngăn cản du khách Trung Quốc du lịch sang Philippines.[23] Dù
không có mối đe dọa nghiêm trọng nào đặt ra đối với lợi ích an ninh của Trung
Quốc tại các khu vực tranh chấp nhưng Bắc Kinh dường như cố tình khẳng định chủ
quyền của mình thông qua việc sử dụng các chiến thuật quyết liệt.[24]
Sự quyết đoán của Trung Quốc là câu trả lời cho những lợi
ích kinh tế ngày càng lớn ở nước ngoài đòi hỏi ngoại giao phải chủ động hơn
Cách lí giải mang tính hệ thống thứ ba cho rằng sự quyết
đoán với bên ngoài của Trung Quốc do sự hội nhập với kinh tế thế giới và sự mở
rộng các lợi ích kinh tế của chính Trung Quốc. Nhằm đáp ứng việc gia tăng ngoại
thương của Trung Quốc, Bắc Kinh đã bắt đầu mở rộng khả năng ngoại giao và quân
sự của chính mình. Cụ thể, Hải quân Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLAN)
đã bắt tay vào việc xây dựng lực lượng hải quân ngoài khơi để bảo vệ những tuyến
đường thông thương trên biển (SLOCs) của Trung Quốc. Cùng với sự phát triển khả
năng tác chiến xa bờ của hải quân, bao gồm cả việc xây dựng các tàu sân bay,
Trung Quốc đặt mục tiêu phát triển “dự án sức mạnh bị hạn chế” nhằm bảo vệ các
lợi ích trong khu vực và trên thế giới.[25] Nhưng đáng tiếc, nỗ lực hiện đại
hóa Hải quân Trung Quốc lại gây ra một cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực, tạo
ra những nhận thức được lan truyền rộng rãi kể từ năm 2009 cho rằng Trung Quốc
đang triển khai ngoại giao pháo hạm.[26]
Cách lí giải này không thuyết phục bởi hai nguyên nhân. Thứ
nhất, hoạt động xuất nhập khẩu ở Trung Quốc không tăng đột biến sau cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Như hình 2 cho thấy, ngoại thương của Trung
Quốc đã tăng lên đến 65% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong năm 2006, nhưng đến
năm 2014 thì giảm xuống còn khoảng 40% GDP. Nhìn chung, sự thịnh vượng của
Trung Quốc tiếp tục được thúc đẩy bằng cách mở rộng tiêu thụ trong nước, chứ
không phải bằng cách mở rộng ngoại thương. Thứ hai, các lợi ích kinh tế của
Trung Quốc có khả năng bị đe dọa bởi việc Trung Quốc phô trương sức mạnh hàng hải.
Giao thương giữa Trung Quốc với Mỹ và Nhật Bản, lần lượt là đối tác thương mại
lớn nhất và lớn thứ 3 của Trung Quốc, chỉ có thể bị đe dọa nếu nước này thể hiện
thái quá sức mạnh hàng hải, khiến Washington và Tokyo cảm thấy tình thế đáng
báo động. Nhập khẩu năng lượng của Trung Quốc từ Trung Đông cũng được bảo đảm
nhờ chính sách tự do thương mại và chính sách tự do hàng hải của Mỹ. Hình ảnh
quyết đoán của Trung Quốc trên trường quốc tế sẽ không giúp ích được gì cho lợi
ích cộng đồng doanh nghiệp Trung Quốc trong việc mở rộng thị trường nước ngoài.
Tóm lại, cách giải thích ở cấp độ hệ thống đối với môi trường
quốc tế đang biến đổi của Trung Quốc và các lợi ích kinh tế ở nước ngoài không
thể đưa ra lời lí giải hợp lý cho sự thay đổi chính sách đối ngoại của Bắc Kinh
kể từ năm 2009. Giả sử Trung Quốc có thể soán ngôi Mỹ, trở thành nền kinh tế lớn
nhất thế giới vào năm 2020, Trung Quốc cũng không nhất thiết phải thay đổi xu
thế quốc tế đang rất có lợi hiện nay. Dường như sự phát triển của chính sách đối
ngoại truyền thống theo phương châm “giấu mình chờ thời” (tiếng Trung – 韬光养晦) sẽ tiếp tục
đảm bảo một môi trường bên ngoài hòa bình cho sự phát triển kinh tế của Trung
Quốc. Yuen Foong Khong đã chỉ rõ:
Đòn chí mạng của Trung Quốc để đánh bật Mỹ chính là phải tiếp
tục tăng trưởng ở mức 6-8%/năm trong 25 năm tới. Khi các nhà lãnh đạo Trung Quốc
nói rằng họ phải tiếp tục tập trung vào phát triển kinh tế trong nước, theo đó
họ rất cần một châu Á hòa bình và ổn định, tôi hiểu rằng ý họ là họ không vội
thay thế nước Mỹ… Đợi thêm 25 năm nữa tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, Trung Quốc
có lẽ sẽ ở vị trí và đóng vai trò như Mỹ từ sau Thế chiến II, không chỉ ở châu
Á mà còn hơn thế nữa.[27]
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét