Cuối giờ chiều ngày 2/6/2017, cựu giáo sư trường Đại học Bách khoa TP.HCM, ông Phạm Minh Hoàng, hội viên Hội Nhà báo độc lập Việt Nam, cho biết: “Ngày 1/6/2017 vừa qua, Tổng Lãnh Sự Pháp tại Sài Gòn đã mời tôi lên để thông báo một tin “rất xấu”: nhà nước Việt Nam ngày 17/5 đã ký quyết định hủy bỏ quốc tịch Việt Nam của tôi, và điều này đưa đến việc trục xuất tôi về Pháp (tôi có song tịch Pháp Việt)”.
Như vậy, nói theo Luật Quốc tịch, ông Phạm Minh Hoàng đã bị “tước quốc tịch”. Tuy nhiên lý do để “tước quốc tịch” thì ngay cả ông Phạm Minh Hoàng cũng không biết tại sao.
Ông Phạm Minh Hoàng là ai?
Ông Phạm Minh Hoàng tự sự: “Tháng 11/1973, tôi cất bước sang Paris du
học. Khi máy bay đang lượn trên bầu trời Sàigòn, tôi nhìn qua cửa sổ và
tự nhủ sẽ trở về để xây dựng quê hương đang điêu tàn vì chiến tranh. Hai
năm sau, mọi suy tính của tôi sụp đổ và tôi bắt buộc phải bước vào một
cuộc đời mới, nơi một phương trời mới với những suy nghĩ mới, tuy nhiên
trong lòng tôi vẫn canh cánh hướng về quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn
của mình.
Sau một thời gian sinh sống và làm việc, tư tưởng trở về Việt Nam lại
nhen nhúm trở lại và tôi đã cắp sách đến trường để trang bị cho mình
những kiến thức ích lợi cho công việc ở Việt Nam. Trở về nước năm 2000,
tôi trầy trật mới tìm được một công việc thích hợp trong Đại học Bách
Khoa SG với đồng lương ít ỏi. Trong suốt 10 năm giảng dạy, tôi vẫn tự
nhủ mình không phải là một người thầy giỏi, tôi chỉ được mỗi cái chăm
chỉ và tận tâm.
Tôi tự hài lòng với bản thân vì đã đem hết sinh lực và tâm trí của mình
để truyền đạt kiến thức đến cho giới trẻ. Khi tôi bị bắt vào năm 2010 vì
đã lên tiếng về tình hình đất nước, tôi đang dạy cùng lúc 5 môn toán
khác nhau và đó là lúc khả năng và óc sáng tạo của tôi đang ở mức sung
mãn vượt bực.
Nhờ sự can thiệp của chính phủ Pháp và sự lên tiếng của các tổ chức nhân
quyền cũng như sự đấu tranh của nhiều người trong, ngoài nước, án của
tôi tương đối nhẹ, chỉ 17 tháng tù giam và 3 năm quản chế…”.
Phạm Minh Hoàng tốt nghiệp học vị thạc sĩ ngành Cơ học ứng dụng tại
Pháp. Ông viết blog dưới bút hiệu Phan Kiến Quốc kêu gọi chính quyền
thực thi dân chủ và phản đối việc giao cho nhà thầu Trung Quốc khai thác
mỏ Bauxite ở Tây Nguyên. Ông bị Cơ quan An Ninh TP.HCM bắt giam để điều
tra ngày 13/8/2010. Ngày 10/8/2011, Tòa án Nhân dân TP.HCM đã đưa ông
ra xét xử sơ thẩm về tội "hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân"
theo khoản 2 Điều 79 Bộ luật Hình sự, và đã tuyên phạt ông 3 năm tù
giam. Nhiều tổ chức quốc tế đã phản đối vụ xét xử này và kêu gọi chính
phủ Việt Nam trả tự do cho ông, như Ủy ban bảo vệ các nhà báo, tổ chức
Front Line Defenders, tổ chức Phóng viên không biên giới, cùng các chính
phủ Hoa Kỳ, Pháp, Liên minh châu Âu.
Ông đã kháng án. Ngày 29/11/2011 Tòa phúc thẩm Tòa án Nhân dân Tối cao
tại TP.HCM đã tuyên bố chấp nhận kháng cáo của ông, giảm án cho ông từ 3
năm tù xuống còn 17 tháng tù về tội “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền
nhân dân”.
Ngày 13/1’2012, ông đã được trả tự do, sau 17 tháng ở tù. Ngoài việc
buộc phải chịu thời gian 3 năm quản chế, ông Phạm Minh Hoàng không bị
tước quốc tịch Việt Nam.
Vì sao lại tước quốc tịch Việt Nam của một trí thức Việt?
Không dễ trả lời vì nếu căn cứ theo Luật Quốc tịch, cũng như trình tự
liên quan về việc ‘tước quốc tịch’, thì hiện tại ông Phạm Minh Hoàng
không có bất kỳ vi phạm pháp luật nào của Nhà nước CHXHCN Việt Nam.
Câu hỏi đặt ra: Khi nào một công dân Việt Nam bị tước quốc tịch Việt
Nam? Nói theo ngôn ngữ pháp lý thì căn cứ để tước quốc tịch Việt Nam
được quy định tại Điều 31 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 (sửa đổi, bổ
sung năm 2014), theo đó: “1. Công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài có
thể bị tước quốc tịch Việt Nam, nếu có hành vi gây phương hại nghiêm
trọng đến nền độc lập dân tộc, đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam hoặc đến uy tín của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 2.
Người đã nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 19 của Luật này
dù cư trú ở trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam cũng có thể bị tước quốc
tịch Việt Nam, nếu có hành vi quy định tại khoản 1 Điều này”.
Về mặt thủ tục hành chính, thì hồ sơ kiến nghị tước quốc tịch Việt Nam
(căn cứ Nghị định số 78/2009/NĐ-CP và Nghị định số 97/2014/NĐ-CP), như
sau: “1. Trong trường hợp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Cơ quan đại diện
Việt Nam ở nước ngoài kiến nghị tước quốc tịch Việt Nam đối với người
có hành vi quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật Quốc tịch Việt Nam thì hồ
sơ gồm có: a) Văn bản kiến nghị của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Cơ
quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài về việc tước quốc tịch Việt Nam; b)
Các tài liệu xác minh, kết luận của các cơ quan có thẩm quyền về hành vi
vi phạm của người bị đề nghị tước quốc tịch Việt Nam; c) Đơn, thư tố
cáo người bị đề nghị tước quốc tịch Việt Nam (nếu có).
2. Trong trường hợp Tòa án đã xét xử bị cáo có hành vi quy định khoản 1
Điều 31 Luật Quốc tịch Việt Nam kiến nghị tước quốc tịch Việt Nam đối
với người đó thì hồ sơ gồm có: a) Văn bản kiến nghị của Tòa án về việc
tước quốc tịch Việt Nam. b) Bản án đã có hiệu lực pháp luật và các tài
liệu có liên quan”.
Trình tự, thủ tục tước quốc tịch Việt Nam, như sau: Trong thời hạn 15
ngày, kể từ ngày phát hiện hoặc nhận được đơn, thư tố cáo về hành vi quy
định tại khoản 1 Điều 31 của Luật quốc tịch Việt Nam, Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm xác
minh, nếu có đầy đủ căn cứ thì lập hồ sơ kiến nghị Chủ tịch nước tước
quốc tịch Việt Nam của người có hành vi đó. Tòa án đã xét xử đối với bị
cáo có hành vi quy định tại khoản 1 Điều 31 của Luật quốc tịch Việt Nam
lập hồ sơ kiến nghị Chủ tịch nước tước quốc tịch Việt Nam của người có
hành vi đó.
Hồ sơ kiến nghị tước quốc tịch Việt Nam được gửi đến Bộ Tư pháp. Trong
thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ kiến nghị của Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài hoặc của Tòa án, Bộ
Tư pháp có trách nhiệm chủ trì phối hợp với Bộ Công an, Bộ Ngoại giao
và các bộ, ngành khác có liên quan thẩm tra hồ sơ kiến nghị tước quốc
tịch Việt Nam và báo cáo Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước xem
xét, quyết định. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị
của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước xem xét, quyết định.
Kịch bản dàn dựng từ Bộ Công an?
Như vậy, trong trường hợp của cựu giáo sư Phạm Minh Hoàng, cái cớ duy
nhất để đưa đến bút phê của ông Trần Đại Quang, là phía công an dựng lên
một bộ hồ sơ tố giác nào đó đối với ông Phạm Minh Hoàng. Điều này cũng
tương tự như công an tỉnh Nghệ An đang dàn dựng kịch bản vu khống linh
mục Nguyễn Đình Thục và linh mục Trần Đức Nam.
Cũng không gì bất ngờ trong những kịch bản vừa kể, vì ông chủ tịch nước
từng là Bộ trưởng Công an. Ngay cả Đối thoại Shangri-La khai mạc tối
2/6/2017 tại Singapore, trong lúc các nước Mỹ, Australia, Canada, Pháp,
Nhật Bản, Indonesia, Malaysia, Philippines và New Zealand đều cử Bộ
trưởng Quốc phòng tham gia, thì Việt Nam lại có ông trưởng đoàn là
Thượng tướng Bùi Văn Nam, thứ trưởng Bộ Công an.
Mượn một câu nói của một người đấu tranh đã bị trục xuất, ông Phạm Minh
Hoàng chua xót nói rằng: “Người ta có thể đưa tôi ra khỏi Việt Nam,
nhưng không ai có thể đưa Việt Nam ra khỏi tôi”.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét