Thứ Ba, 6 tháng 11, 2018

7088 - Người hùng đã phá hỏng kế hoạch chế tạo bom nguyên tử của Hitler (phần 1)


Lời người dịch: bài báo viết về một chiến công hiển hách của những người kháng chiến Na-uy trong việc phá hoại kế hoạch chế tạo bom nguyên tử của Hitler. Nó cho ta hiểu về Thế chiến II, khác nhiều với những gì mà Liên xô tự tung tự tác. “Của chung nhân loại chiến công này”. Bài báo viết về những người chưa cũ, thời chưa xa. Đọc lại lịch sử không bao giờ vô ích, như bài báo đã viết:“Người ta đã nói rất nhiều về những chuyện ‘sẽ không bao giờ nữa’, nhưng điều này là không thể nếu chúng ta không nhớ những gì đã diễn ra trong quá khứ”.

Những chiến sỹ biệt động người Na Uy đã di chuyển bằng ván trượt tuyết qua suốt đại ngàn rừng thông Telemark trong một màu trắng của mùa đông, như những bóng ma lướt nhanh trên đại dương tuyết trắng dưới ánh trăng. Họ dừng lại ở một hẻm núi dốc dựng đứng và nhìn xuống một nhà máy thủy điện đang phát ra những âm thanh ồn ào, nơi các nhà khoa học Đức Quốc xã đang thực hiện một dự án bí ẩn, tối mật.

Trung úy Joachim Ronneberg, một chiến binh kháng chiến, 23 tuổi, chỉ huy biệt đội, và tám thành viên đồng chí của anh - tất cả đều mang theo những viên nang xyanua để nuốt nếu bị bắt - đã được tình báo Anh thông báo vắn tắt rằng nhà máy này hiện đang chưng cất một thứ gì đó gọi là nước nặng, và rằng nó rất quan trọng đối với nỗ lực chiến tranh của Hitler.

Vài giờ sau, trong một trong những cuộc tấn công biệt kích nổi tiếng nhất của Thế chiến II, Trung úy Ronneberg và biệt đội phá hoại của anh đã vượt qua những đội lính canh và một trại lính đầy quân Đức, lẻn được vào nhà máy, gài các thiết bị nổ và thổi bay những hy vọng của Hitler đối với một thành phần cực kỳ quan trọng để tạo ra quả bom nguyên tử đầu tiên.

Joachim Ronneberg vào năm 2015. Năm 1943, với tư cách là một chiến binh kháng chiến trong Thế chiến II, ông chỉ huy một nhiệm vụ táo bạo để thổi bay một nhà máy nước nặng ở Na Uy, giúp phá hoại chương trình hạt nhân của Hitler. Ảnh: Mauricio Lima
Trung úy Ronneberg, thành viên cuối cùng còn sống sót trong cuộc đột kích năm ấy, năm 1943, và là một trong những anh hùng chiến tranh được tặng thưởng nhiều huân huy chương nhất của một quốc gia nổi tiếng trong công cuộc kháng chiến hiển hách chống lại sự chiếm đóng của phát-xít Đức những năm 1940-45, đã tạ thế hôm Chủ nhật, ngày 21 tháng Mười năm 2018 tại Alesund, Na Uy. Bà Birte Ronneberg, con gái ông, đã thông báo như vậy. Ông hưởng thọ 99 tuổi.

Trung úy Ronneberg và các thành viên trong biệt đội phá hoại của ông đã được tặng thưởng vô số huân huy chương danh dự quốc tế sau chiến tranh (thế giới lần thứ hai) vì những gì mà được nhìn nhận như là một nhiệm vụ, một sứ mệnh tự sát. Sứ mệnh này đã được vinh danh trong sử sách, trong phim tài liệu và phim truyện, đặc biệt là trong bộ phim nổi tiếng sản xuất năm 1965 của Anthony Mann, bộ phimNhững người anh hùng miền rừng Telemark (“The Heroes of Telemark”), với sự tham gia diễn xuất của Kirk Douglas, một bộ phim mà đã được các nhà phê bình điện ảnh gọi là một phiên bản gần với hiện thực – tuy chưa được hoàn hảo (“a fact-flawed version of the event”) về sự kiện này.

Không phải ngay sau khi chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc vào năm 1945, Trung úy Ronneberg đã hiểu ngay được được ý nghĩa của cuộc đột kích ấy. “Lần đầu tiên tôi nghe nói về bom nguyên tử và nước nặng là sau khi người Mỹ thả bom xuống Hiroshima và Nagasaki”, ông đã nói với phóng viên của tờ New York Times vào năm 2015 như thế. Nếu cuộc đột kích thất bại, ông nói, London sẽ kết thúc “trông giống như Hiroshima”.

Các nhà sử học từ rất lâu đã tranh luận về việc Hitler đã tiến đến gần việc sở hữu vũ khí hạt nhân đến mức nào. Một nhà văn người Đức, Rainer Karlsch, tuyên bố trong cuốn sách Quả bom của Hitler(“Hitler’s Bomb”. 2005) rằng các nhà vật lý Đức đã tiến hành ba thử nghiệm hạt nhân vào các năm 1944 - 1945. Nhưng ông không đưa ra bằng chứng. Một quan điểm được chấp nhận rộng rãi hơn là chương trình (bom nguyên tử) của Hitler, trước cả Dự án Manhattan (của Mỹ), đã bị trục trặc ngay từ hồi giữa chiến tranh vì những sai sót khoa học và vì những hoạt động phá hoại đầy hiệu quả của những người kháng chiến Na Uy.

Một nhà máy thủy điện ở thị trấn Rjukan của Na Uy, nơi các nhà khoa học Đức đã cố gắng sản xuất “nước nặng” cần thiết để sản xuất vũ khí nguyên tử. Người Đức đã tiến hành quá trình này vào đầu năm 1940, nhưng dự án đã bị phá hoại bởi Ronneberg. Ảnh: NYT
Vào năm 1942, người Anh biết được rằng Đức quốc xã đã chọn nước nặng, hoặc deuterium oxide, để làm chậm các phản ứng dây chuyền để sản xuất ra plutonium ở mức độ làm giầu có thể dùng để chế tạo bom nguyên tử. Họ biết thêm rằng nhà máy thủy điện Norsk ở Na Uy, ngay từ năm 1934, đã chiết xuất nước nặng để làm phân bón, nhà máy thủy điện này nay đã bị quân xâm lược Đức quốc xã chiếm giữ như là một nguồn cung cấp tốt nhất các chất đồng vị phóng xạ cho chương trình chế tạo vũ khí nguyên tử của Berlin.

Năm 1942, một đội biệt kích (commando) gồm 35 người của Anh đã hy sinh trong sứ mệnh phá hoại nhà máy này. Nước Anh sau đó đã tuyển mộ các chiến sỹ tình nguyện người Na Uy dưới sự chỉ huy của Trung úy Ronneberg cho Chiến dịch Gunnerside, được Thủ tướng Winston Churchill phê duyệt. Các cuộc không kích không được tiến hành vì sợ thương vong nặng nề đối với những công nhân vận hành người Na Uy và lo ngại khả năng thành công thấp vì nước nặng được chưng cất trong một tầng hầm đã được gia cố để chống lại các loại bom.

Sau khi được huấn luyện tại Anh quốc, biệt đội của Trung úy Ronneberg đã nhảy dù xuống lãnh thổ Na Uy. Tháng 10 năm 1942, một toán tiền trạm gồm bốn thành viên với một đài thu phát vô tuyến và các nguồn cung cấp đã lên đường trước. Tháng Hai năm sau (1943), sáu người khác lên đường tiếp theo. Họ đã gặp nhau và tập kết tại một căn nhà nhỏ (cabin) tại Vemork trên một cao nguyên rừng có tên gọi là Telemark, cách mục tiêu (nhà máy thủy điện) 40 dặm.

Các trận bão tuyết đã cầm chân họ đúng một tuần. Cuối cùng, họ đã khởi hành. Một người được chỉ định tách ra khỏi nhóm để duy trì liên lạc vô tuyến với London. Chín người khác được phân công với khẩu phần ăn trong năm ngày, thuốc nổ, dây cháy chậm, súng đặc dụng (tommy guns), lựu đạn, la bàn và hai chiếc kìm cộng lực cắt kim loại mà Trung úy Ronneberg đã kiếm được tại một cửa hàng đồ sắt ở London. Hai chiếc kìm cộng lực cắt kim loại này rồi sẽ cho thấy tầm quan trọng cực kỳ của chúng.

Họ hành quân (bằng ván) trượt tuyết vào ban đêm, nghỉ ban ngày và đến được hẻm núi vào tối muộn ngày 27 tháng Hai năm 1943. Những sườn núi dốc kéo dài đến 1.000 mét đến tận bờ sông Mana. Nhà máy thủy điện được xây dựng trên một ghềnh đá ở lưng chừng dốc. Một cây cầu treo trên sông được canh gác dẫn đến lối vào phía trước (của nhà máy). Phía sau là một tuyến đường sắt và doanh trại của quân đội Đức. Các lính canh tuần tra các đường ray và hàng rào dây thép gai xung quanh lối vào phía sau (của nhà máy).

Không có cách đột nhập nào là dễ dàng. “Có rất nhiều thứ chỉ là may mắn và cơ hội”, Trung úy Ronneberg nói với phóng viên tờ The New York Times như vậy. “Không có kế hoạch. Chúng tôi chỉ hy vọng vào điều tốt nhất”. Họ quyết định thử tìm cách đột nhập qua lối vào phía sau.

Họ chờ đợi nhiều giờ cho đến sau lúc nửa đêm, sau khi theo dõi việc đổi ca đêm của công nhân vận hành và của đội lính gác. Sau đó, từ một địa điểm ở phía trên thượng nguồn cách đó khoảng 75 m, họ tụt xuống một hẻm núi lộng gió, bám chặt vào những bụi cây và cành cây, phá vỡ các tảng băng để mở đường. Họ băng qua dòng sông trên một cây cầu làm bằng băng, sau đó lại ì ạch leo lên một con dốc xa, tuyết ngập đến thắt lưng. Họ nhìn thấy những tên lính gác trên cây cầu, nhưng dòng sông ào ào cuộn chảy và tiếng máy chạy rì rầm đã nuốt chửng những tiếng động của chính họ.

Tụt xuống con đường sắt mà không bị (bọn lính canh) nhìn thấy, họ nấp ẩn đằng sau mấy nhà kho gần hàng rào bao quanh. Năm người còn lại ẩn mình tại đó, sẵn sàng nhả đạn vào trại lính hoặc những tên lính gác, nhưng họ vẫn chưa bị phát hiện. Khi một tên lính gác rời hàng rào để đi tuần tra, Trung úy Ronneberg và ba người khác lao tới cổng ra vào, cắt ổ khóa bằng chiếc kìm cắt cộng lực và rồi mất hút trong khuôn viên (nhà máy).

Họ chia thành hai toán. Tất cả các cánh cửa đều bị khóa, nhưng Trung úy Ronneberg và đồng đội Fredrik Kayser đã tìm thấy một đường hầm nhỏ cho cáp và đường ống đi qua. Trung úy Ronneberg và Kayser cố chui người vào, kéo theo những ba-lô thuốc nổ đằng sau họ. Đường ống này dẫn đến một tầng hầm rộng được khoét sâu vào lòng đất. Họ nhận ra nó là trung tâm sản xuất nước nặng: một lưới mắt cáo gồm các ống sắt, ống cao su, dây điện và 18 xi lanh (bồn chứa) bằng thép không gỉ, mỗi cái cao 50 inch và rộng 10 inch - các bồn chứa nước nặng. Không có người bảo vệ, chỉ có một người ngồi ở bàn làm việc. Họ tụt xuống, và Kayser gí mũi súng vào ngực người đàn ông, buộc người này im lặng.

Trung úy Ronneberg mở tung các ba-lô đựng thuốc nổ và bắt đầu gắn chất nổ vào thiết bị chưng cất nước nặng. Hai đồng đội khác trong toán phá hoại cùng tham gia công việc với họ, hai người này đã phá vỡ một cửa sổ để mở đường đột nhập vào trung tâm sản xuất nước nặng. Họ đặt dây cháy chậm, thời gian cháy là 30 giây, bật diêm đốt dây cháy chậm và lao ra ngoài.

Còn tiếp...

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét