
Một gia đình miền Nam không chấp
nhận Cộng sản. Ảnh: Facebook
Người bạn gửi tôi link trên trang
Facebook của ông Hoàng Hải Vân về bài viết liên quan đến “hậu chấn” The Vietnam
War. Một bộ phim tài liệu 10 tập, dài 18 tiếng do Ken Burns và Lynn Novick thực
hiện, được PBS phổ biến rộng rãi. Vì chưa hề biết ông, nên chỉ lõm bõm võ đoán
là ông thuộc về nhóm “cấp tiến” của phe chiến thắng. Ông “lớt phớt” nhận diện về
cuộc chiến, còn tôi thì suy nghĩ vụn về một số điều ông nêu ra.
– “Từ một bộ phim mà kích ngòi
cho những tranh cãi về xương máu, trong bối cảnh những nỗi đau của chiến tranh
vẫn hiện hữu trong phần lớn gia đình người Việt, chẳng khác gì thúc đẩy sự tiếp
diễn chiến tranh trong lòng người”.
Xin thưa, không ai kích ngòi cho
những tranh cãi của người Việt “chẳng khác gì thúc đẩy sự tiếp diễn chiến tranh
trong lòng người” cả, mà thực sự Mỹ muốn giải tỏa ẩn ức trong lòng xã hội Mỹ. Mỹ
dùng tài liệu và bối cảnh người Việt Nam cũng như người Mỹ từng tham chiến (đa
số là người phía Bắc) nhìn theo nhiều góc cạnh chứ không phải nạn nhân chính,
là người phía Nam! Người Việt tranh cãi vì sự thiên vị đó của nhóm làm phim.
Chính điều nầy đã thể hiện thực trạng xã hội Việt Nam vẫn đang chia rẽ trầm trọng.
Nạn nhân chính, là phe phía Nam, phải lên tiếng!
Phương Tây, đặc biệt là Mỹ, giải
mã tư liệu để công luận tìm hiểu và phê phán rồi làm thành phim, còn tư liệu cả
khối cộng sản điều khiển chiến tranh tại Việt Nam, sự thật ra sao thì đảng cộng
sản Việt Nam vẫn giấu kín. Một bên giải mã để công luận học được bài học từ lịch
sử, còn một bên thì giấu tất cả để tự ca ngợi mình! Vì thế nhà văn hóa Nguyên
Ngọc đã có mong muốn là Việt Nam “cũng nên nhìn lại” để thực hiện một bộ phim
tương tự.
Mỹ giải mã tài liệu để giải quyết
nan đề xã hội của họ. Còn Việt Nam, nan đề đó to lớn cả trăm ngàn lần hơn, tại
sao vẫn im lặng? Không những thế mà cứ tiếp tục đánh tráo sự thật. Phía Bắc gây
ra chiến tranh rồi trút tất cả tội ác lên đầu phe phía Nam dù họ chỉ hoàn toàn
tự vệ! Vì hành vi “gắp lửa bỏ tay người” nầy nên phe phía Nam càng phẫn uất. Từ
một miền Nam trù phú và văn minh bỗng chốc bị tan hoang ngay sau 1975, tại sao
không nói đến thảm cảnh đó mà chỉ ca ngợi chiến thắng?
Ca từ phía Bắc có câu “đường vinh
quang xây xác quân thù” đã và đang minh chứng bản chất của “chiến thắng vĩ đại”
nầy.
– Nói về cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt,
tác giả viết: (ông là Bí thư Đảng ủy của Ủy ban quân quản Sài Gòn trong chiến dịch
Hồ Chí Minh). Tôi không nghĩ là ông “xét lại” hay có một cái nhìn khác gì về cuộc
chiến mà ông tham gia, ông chỉ không muốn lòng người tiếp tục ly tán.
“Không… có cái nhìn khác về cuộc
chiến” tức là ông Võ Văn Kiệt vẫn tin cuộc chiến là đúng. “Giải phóng miền Nam”
là đúng! Nhắc lại điều nầy mục đích của tác giả là thanh minh giùm ông Võ Văn
Kiệt với nội bộ đảng cộng sản chứ không phải với người phía Nam. Vì các chủ
trương học tập cải tạo, kinh tế mới, đổi tiền, đánh tư sản mại bản, bán bãi thu
vàng vượt biên… đều được thực hiện rất bài bản mà không hề được nhắc đến. Và hậu
quả tất nhiên là có hàng triệu người liều chết vượt biên.
Nếu cuộc chiến là đúng thì tại
sao thực hiện những điều vừa kể? Và đó chính là nguyên nhân đưa đến “lòng người
tiếp tục ly tán”!
– Nhận xét về Mỹ của điệp viên Phạm
Xuân Ẩn mà tác giả đồng tình: “Anh đi xâm lược giống như anh đi buôn, phải tính
sao cho có lời, nếu trả giá đắt quá thì rút, mà rút tức là thua. Trong chiến
tranh Việt Nam, ta tiến hành chiến tranh nhân dân, động viên sức mạnh toàn dân,
Mỹ tính sổ thấy không có lời. Ông vừa nói vừa rút trên giá sách một cuốn từ điển,
tìm trong các trang vần C, chỉ cho tôi tên ông Clau’se-witz “để viết cho đúng
chính tả“.
Khi nói như thế điệp viên Phạm
Xuân Ẩn đã quên bén cái bắt tay của Nixon với Mao tại Bắc Kinh năm 1972. Hãy so
sánh một thị trường mấy chục triệu người với một thị trường 1 tỉ người! Vì thế
câu phân tích đó chỉ nói lên tư duy của một người buôn chuyến chứ không phải của
một bộ óc biết đầu tư buôn bán. Vì bản chất tư bản là lợi nhuận và tạo điều kiện
để đôi bên cùng có lợi thì lợi nhuận mới được nhiều và dài lâu. Nhật, Đại Hàn,
Đài Loan chấp nhận cuộc chơi để trở nên cường quốc tư bản. Và mấy nước đó có mất
độc lập tự chủ không? Với Nhật, Mỹ là kẻ thù lẽ ra là “không đội trời chung” vì
2 quả bom nguyên tử, nhưng tại sao Nhật luôn luôn là đồng minh với Mỹ và Tướng
MacArthur được nhiều người Nhật nhắc tên? Vì nhờ ông thực hiện kế hoạch xây dựng
lại thời hậu chiến nên chỉ 2 thập niên sau Thế chiến thứ 2, Nhật trở lại cường
quốc. Cũng nhờ giao dịch với Mỹ Nam Hàn, Đài Loan trở thành mấy con Rồng!
Việt Nam đi ngược đường. Nhờ Tàu,
Liên Xô với “anh em” xã hội chủ nghĩa nên ngoài chuyện phải trả giá là núi
xương sông máu còn bị tụt hậu về mọi mặt, đến cả trăm năm.
– ”Đó là Việt Nam dân chủ cộng
hòa hoàn toàn thành thật thi hành Hiệp định Genève và kiên trì chờ đợi Tổng tuyển
cử để thực hiện thống nhất đất nước một cách hòa bình.” “Đảng Lao động Việt Nam
hồi đó đã nghiêm cấm các đảng viên ở lại miền Nam trang bị và tàng trữ vũ khí,
ai không chấp hành sẽ bị khai trừ ra khỏi Đảng”.
Nếu đúng thế thì trả lời như thế
nào việc ông Lê Duẩn cũng như một số cán bộ cao cấp khác trốn ở lại trong Nam để
hoạt động, không tập kết ra Bắc?
– Nói về Tổng Thống Ngô Đình Diệm
thời Đệ nhất Cộng hòa:
“đàn áp đẫm máu những người kháng
chiến cũ trong tay không tấc sắt là sự thật…”
“ông Ngô Đình Diệm ủng hộ tỉnh
trưởng Bến Tre Phạm Ngọc Thảo thả hàng ngàn tù chính trị và đề nghị tất cả các
tỉnh làm theo ông Thảo cũng là sự thật”.
“đặt phần lớn các vùng nông thôn
miền Nam ra ngoài vòng pháp luật để tự do tàn sát và hủy diệt bằng bom đạn và
chất độc hóa học”.
Chủ trương của cộng sản là lấy
nông thôn bao vây thành thị, nên nông dân bị cộng sản xúi giục nổi dậy. Vì thực
trạng như thế nên mới có “Ấp chiến lược”, để cô lập, truy lùng và tiêu diệt du
kích! Còn du kích sau khi phục kích bắn giết thì tàng ẩn trong dân, lấy dân làm
bia đỡ, nếu bị giết thì tẩu tán vũ khí rồi lu loa là “dân, trong tay không tất
sắt”!
Còn việc “thả hàng ngàn tù chính
trị” có thể để thu phục nhân tâm, là một thủ đoạn chính trị trong chiến tranh
du kích, nếu không muốn nói đó là do nhân đạo!
– ”Ngay cả đối với cụ Hồ, khi tán
thành Quốc tế ba, cụ vẫn chỉ coi đó chỉ là một phương tiện, một con đường để cứu
nước”.
Thế thì tất cả sách báo ông Hồ ca
ngợi chủ nghĩa cộng sản, ca ngợi Mác, Lenin, Mao phải đem vức bỏ hết vào sọt
rác?
– ”Nhưng dù sao chăng nữa thì với
một bản Hiến pháp tự do mẫu mực rất khó sửa đổi (một bản Hiến pháp mà cụ Hồ đã
dựa vào đó để soạn thảo bản Hiến pháp Việt Nam năm 1946)”.
Ông Hồ viết bản Hiến Pháp và cũng
chính ông Hồ (chứ không phải ai khác) không thực hiện, như vậy là ngụy tạo để
tìm sự hợp tác của các đảng phái, của phe nhóm yêu nước khác chính kiến trong
lúc Việt Minh còn ở thế yếu, để rồi từng bước củng cố lực lượng và tiêu diệt họ,
vì chủ nghĩa cộng sản vốn là độc tôn. Và độc tôn như hiện tại!
Bây giờ, tạm gác bỏ chuyện mười mấy
năm chiến tranh đẫm máu từ sau khi anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị Mỹ giết,
hãy nhìn lại và thử so sánh:
Việt Nam, sau “42 năm chiến thắng”,
trong thời bình, nhưng về kinh tế, chính trị, đến văn hóa xã hội hiện tại ra
sao? Tàu cộng đang làm gì trên đất nước? Việt Nam đang đứng ở vị trí nào trên
thế giới? Trong lúc đó, dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm chỉ được 8 năm
(1955-1963) giữa một miền Nam bị cát cứ, không có được điểm nào có thể gọi là
“làm nền tảng”, đã tạo được thế đứng vững chãi về nhiều mặt. Được thế giới Tự
do công nhận. Xã hội được an bình. Người dân được ấm no hạnh phúc. Như vậy ai
có công, ai có tội?
Ảnh minh họa. Nguồn: internet
Tóm lại, nếu tác giả bài viết thuộc
“phe cấp tiến” trong đảng, thì chuyện hòa giải chắc chắn còn rất cam go, nếu
không muốn nói là không thể! Vì thế đây là một nan đề chưa có giải đáp, trong
lúc chế độ vẫn tiếp tục ngông nghênh, khoác loác, tự mãn thì cho dù những người
có thực tâm trao đổi, muốn tìm một lối thoát cũng chỉ lảng phí thời gian.
“Chơi dao có ngày đứt tay” mà cộng
sản Việt Nam chơi trò chiến tranh nên dân tộc đang phải gánh hậu quả!
Thưa, đây cũng chỉ là suy nghĩ vụn
giống như tác giả đã “lớt phớt” về chuyện dâu bể của dân tộc!
_____
Bài viết của nhà báo Hoàng Hải
Vân ngày 13-10-2017:
LỚT PHỚT VỀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM
The Vietnam War dài 10 tập của
hai đạo diễn Ken Burns và Lynn Novick là bộ phim mới nhất về chiến tranh Việt
Nam do người Mỹ thực hiện vừa phổ biến trên mạng Internet đang gây nhiều tranh
cãi.
Một bộ phim, dù đạo diễn có cố sắp
xếp các sự kiện và nhân vật theo kiểu gì thì cũng chỉ là một góc nhìn. Những
người quảng bá cho bộ phim cũng từ đó mà hướng người xem theo quan điểm chính
trị mà họ cần quảng bá. Từ một bộ phim mà kích ngòi cho những tranh cãi về
xương máu, trong bối cảnh những nỗi đau của chiến tranh vẫn hiện hữu trong phần
lớn gia đình người Việt, chẳng khác gì thúc đẩy sự tiếp diễn chiến tranh trong
lòng người.
Tôi nghĩ nhiều về cách nghĩ của cựu
Thủ tướng Võ Văn Kiệt (Sáu Dân) khi ông nói, nhắc đến chiến thắng mùa Xuân 1975
là “một triệu người vui và một triệu người buồn”. Và tôi đã trực tiếp chứng kiến
một câu chuyện. Hôm đó là ngày 29-4-2005, tôi đang ngồi nói chuyện với ông thì
ông Lê Thanh Hải (Hai Nhựt), Bí thư Thành ủy TP.HCM đến. Ông Hai Nhựt đến mời
ông dự một cuộc gặp mặt kỷ niệm 30 năm ngày chiến thắng. Ông Sáu Dân xua tay :
“Tôi không dự đâu. Anh mời bà Cầm có dự thì dự”. Ông Hai Nhựt đến mời phu nhân
ông Sáu Dân nhưng bà cũng từ chối. Sau khi ông Hai Nhựt ra về, ông nói với tôi
: “Ba mươi năm rồi mà còn đánh võ mồm. Tôi không dự một cuộc gặp mặt hay hội thảo
nào hết trong dịp kỷ niệm này, trừ cuộc mít tinh ngày mai (30-4-2005) tôi không
thể không đến là vì tôi từng làm quân quản” (ông là Bí thư Đảng ủy của Ủy ban
quân quản Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh). Tôi không nghĩ là ông “xét lại”
hay có một cái nhìn khác gì về cuộc chiến mà ông tham gia, ông chỉ không muốn
lòng người tiếp tục ly tán.
Vào năm 2002, tôi viết loạt ký sự
đầu tiên về tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn đăng 52 kỳ trên báo Thanh Niên. Mở đầu
ký sự đó là cách nhìn của ông Ẩn về chuyện thắng – thua của cuộc chiến. Xin
trích lại đây một đoạn :
“Tôi hỏi mấy chục năm sống ở Sài
Gòn, hiểu biết tường tận về sức mạnh quân sự, sức mạnh kinh tế của Mỹ, ông có
thực sự “tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng” không, ông không trả lời theo
cách thông thường. Ông nói: “Hai quân đội đánh nhau, bài học đầu tiên là quân đội
nào mạnh hơn quân đội ấy thắng, mạnh ngang nhau thì huề. Bài học thứ hai, nếu mạnh
ngang nhau ai quyết tâm hơn người ấy thắng, quyết tâm như nhau thì huề. Bài học
thứ ba, nếu mạnh như nhau và quyết tâm như nhau thì ai có chiến lược chiến thuật
hay hơn người ấy thắng, chiến lược chiến thuật hay như nhau thì huề. Bài học thứ
tư, nếu tất cả những cái ấy đều ngang nhau thì quân đội nào nắm được yếu tố bất
ngờ thì quân đội ấy thắng. Đó là lập luận của Clau’se-witz (Karl won
Clau’se-witz, nhà chiến lược quân sự Đức, 1780-1831). Nhưng nước lớn đánh nước
nhỏ thì sao ? Clau’se-witz nói nước nhỏ chưa chắc đã thua, nếu biết động viên
toàn dân, động viên hết nhân tài vật lực và đánh dài. Anh đi xâm lược giống như
anh đi buôn, phải tính sao cho có lời, nếu trả giá đắt quá thì rút, mà rút tức
là thua. Trong chiến tranh Việt Nam, ta tiến hành chiến tranh nhân dân, động
viên sức mạnh toàn dân, Mỹ tính sổ thấy không có lời. Ông vừa nói vừa rút trên
giá sách một cuốn từ điển, tìm trong các trang vần C, chỉ cho tôi tên ông
Clau’se-witz “để viết cho đúng chính tả”” (hết trích)
Đó là nhận định của một người
trong cuộc nhưng rất khác với nhận định chính thống. Rất khác, nhưng lại không
gây tranh cãi.
Khi viết ký sự “Ông Mười Khôi, một
đại anh hùng”, tôi có nhấn mạnh một sự thật đã bị những người viết sử từ cả hai
phía, hoặc bỏ qua hoặc coi là không quan trọng. Đó là Việt Nam dân chủ cộng hòa
hoàn toàn thành thật thi hành Hiệp định Genève và kiên trì chờ đợi Tổng tuyển cử
để thực hiện thống nhất đất nước một cách hòa bình. Đảng Lao động Việt Nam hồi
đó đã nghiêm cấm các đảng viên ở lại miền Nam trang bị và tàng trữ vũ khí, ai
không chấp hành sẽ bị khai trừ ra khỏi Đảng. Ông Ngô Đình Diệm không thi hành
Hiệp định này với lý do là Chính phủ quốc gia của ông ấy không ký, nhưng phía
Việt Nam dân chủ cộng hòa vẫn kiên trì mãi cho đến năm 1960. Còn điều này nữa,
việc đàn áp đẫm máu những người kháng chiến cũ trong tay không tấc sắt là sự thật,
nhưng việc ông Ngô Đình Diệm ủng hộ tỉnh trưởng Bến Tre Phạm Ngọc Thảo thả hàng
ngàn tù chính trị và đề nghị tất cả các tỉnh làm theo ông Thảo cũng là sự thật.
Phải chăng bộ máy đàn áp của Việt nam cộng hòa dưới thời ông Diệm được các
chuyên gia chống nổi dậy người Mỹ chỉ huy đã làm những chuyện mà ông Diệm không
được báo cáo ?
Và người Mỹ đã lật anh em ông Diệm,
mở đường cho việc đưa quân Mỹ vào, đặt phần lớn các vùng nông thôn miền Nam ra
ngoài vòng pháp luật để tự do tàn sát và hủy diệt bằng bom đạn và chất độc hóa
học, bịa ra cái gọi là Sự kiện Bắc bộ để mở rộng chiến tranh ném bom miền Bắc.
Nói cuộc chiến Việt Nam là chiến
tranh ý thức hệ là câu chuyện hư cấu. Hầu hết những người đi kháng chiến chống
Pháp hay chống Mỹ đều không đi kháng chiến vì ý thức hệ, dù họ có là đảng viên
cộng sản hay không. Ngay cả đối với cụ Hồ, khi tán thành Quốc tế ba, cụ vẫn chỉ
coi đó là một phương tiện, một con đường để cứu nước.
Vấn đề là một quốc gia nhân danh
là xử sở của tự do như nước Mỹ cớ làm sao lại đem quân xâm lược một nước không
hề có bất kỳ sự uy hiếp nào đối với người Mỹ hay nước Mỹ ?
Tôi đặt ra câu hỏi đó là do tôi
tán thành quan điểm của Ludwig von Mises, một trong những nhà chính trị và kinh
tế tự do lớn nhất của thế kỷ 20, khi ông đề cập đến bản chất của kinh tế thị
trường tự do và chiến tranh. (Xin lưu ý rằng các chính sách đối nội và đối ngoại
của Tổng thống Mỹ Donald Trump hiện nay được hậu thuẫn bởi Heritage Foundation,
một tổ chức được coi là thành trì của chủ nghĩa tự do truyền thống dựa trên nền
tảng tư tưởng của Mises, Adam Smith, F. Hayek và M. Friedman…). Theo Mises, sản
phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường đối với những vấn đề trong nước là chế
độ dân chủ, còn hòa bình là sản phẩm tất yếu của nó trong chính sách đối ngoại.
Về bản chất, thị trường tự do không thể song hành với chiến tranh.
Thế tại sao nước Mỹ tự do lại đi
gây chiến ? Để trả lời câu hỏi đó, phải am hiểu chiều sâu sự biến động chính trị
và kinh tế của nước Mỹ. Hoa Kỳ từ khi lập quốc và trong suốt thế kỷ 19 là đất
nước của tự do, thậm chí gọi là thiên đường của tự do cũng không có gì sai : một
nhà nước bé, thị trường vận hành thông suốt, tự do cá nhân được đề cao, không
can dự vào các hoạt động quân sự hay tranh chấp quốc tế. Đừng nghĩ rằng thời kỳ
này là “lỗi thời”. Nếu không có thời kỳ này thì không thể có nước Mỹ cường thịnh
như ngày nay. Sang thế kỷ 20, nước Mỹ biến dạng, bắt đầu từ chính sách New Deal
của F. D. Roosevelt, Nhà nước phình to ra để thực hiện những sứ mệnh khổng lồ.
Chủ nghĩa tự do truyền thống vốn là thứ tạo ra nước Mỹ, được thay thế bằng điều
mà các nhà kinh tế gọi là chủ nghĩa can thiệp. Ngay cả từ liberal, vốn là từ
dùng để chỉ một cuộc sống có ít nhà nước nhất, đã bị cưỡng đoạt dùng để chỉ một
cuộc sống phụ thuộc vào sứ mệnh của nhà nước, còn những người theo chủ nghĩa tự
do truyền thống (tự do đích thực) bị gọi là những người bảo thủ. Đỉnh cao huy
hoàng của chủ nghĩa can thiệp là vào thời tổng thống Kennedy, tiếp tục được mở
rộng bằng Big Social của tổng thống Johnson. Đây chính là hai vị tổng thống trực
tiếp gây ra chiến tranh Việt Nam, và đó không phải là điều ngẫu nhiên.
Nhưng dù sao chăng nữa thì với một
bản Hiến pháp tự do mẫu mực rất khó sửa đổi (một bản Hiến pháp mà cụ Hồ đã dựa
vào đó để soạn thảo bản Hiến pháp Việt Nam năm 1946) và những thiết chế cùng
truyền thống tự do đã ăn sâu vào xã hội từ thế kỷ 19, nên nền kinh tế thị trường
tự do của nước Mỹ vẫn không thể bị phế bỏ, dù những người theo chủ nghĩa can
thiệp đã không ít phen làm cho nó bị chao đảo, và nó đã trở lại thế thượng
phong vào thời tổng thống Reagan, và giờ đây có lẽ đang tiếp tục trở lại thế
thượng phong vào thời tổng thống Trump. Cũng không phải ngẫu nhiên mà ông Trump
đã bị rủa sả bởi không ít các phương tiện truyền thông Mỹ mà đa phần trong số họ
đã bị chủ nghĩa can thiệp nhào nặn.
Mấy dòng lớt phớt trên đây không
đủ để đào sâu vào gốc rễ chiến tranh. Người viết chỉ muốn nói, những người viết
sử phải biết đào sâu vào gốc rễ mới có thể thấy được nguyên nhân của cuộc chiến.
Cũng nhân đây muốn nói rằng, khi cá nhân được tự do thì loài người sẽ sống
trong một quốc gia khoan dung và một thế giới khoan dung, khi ấy chiến tranh chẳng
có lý do gì mà tồn tại. Nhưng điều đáng buồn là nhiều người vẫn cứ tự cho mình
có những sứ mệnh cao cả đối với người khác.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét