Đằng sau việc theo đuổi các mục tiêu chính sách đối ngoại cạnh tranh
giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc là sự khác biệt cấu trúc trong chiến lược.
Trong khi Hoa Kỳ tập trung chủ yếu vào an ninh thông qua hợp tác quân
sự, Trung Quốc kết hợp các nỗ lực phát triển quân sự với sức mạnh ngày
càng tăng và sẵn sàng sử dụng quyền lực kinh tế.
Trong khi Trung Quốc có tiềm lực kinh tế ngày càng lớn mạnh, và có khả
năng huy động tài chính của mình cho các mục đích an ninh, Hoa Kỳ đã
thất bại trong việc phát triển hợp tác kinh tế với các nước ASEAN và do
đó ảnh hưởng của Washington lên khu vực này bị suy giảm mạnh. Hoa Kỳ
phải nhận ra rằng an ninh kinh tế khu vực là lợi ích tốt nhất của cường
quốc này và hợp tác với các thành viên ASEAN để giảm thiểu tổn thất tài
chính.
Trong ASEAN, tranh chấp ở Biển Đông cho thấy Trung Quốc đang nhắm tới những điểm yếu về kinh tế để đạt được các mục tiêu chính sách đối ngoại của mình.
Trong cuộc tranh chấp dải Scarborough năm 2012, Bắc Kinh đã bất ngờ yêu
cầu Philippines thanh toán khoản vay phát triển cơ sở hạ tầng, làm những
người trồng chuối Philippines bị phá sản bằng cách hạn chế nhập khẩu
chuối và đưa ra một lời khuyên cho công dân Trung Quốc không du lịch tới
Philippines.
Năm 2014, một số cuộc bạo loạn chống Trung Quốc nổ ra ở Việt Nam sau khi
Trung Quốc đặt một giàn khoan dầu vào vùng biển tranh chấp, dẫn tới
việc Bắc Kinh giảm du lịch và đe doạ ngăn chặn đầu tư nếu Hà Nội không
nhanh chóng dập tắt các cuộc biểu tình chống Trung Quốc.
Trong khi đó, sự đoàn kết của ASEAN dưới Công ước của Liên Hợp Quốc về
Luật biển chống lại yêu sách hàng hải của Trung Quốc ở Biển Đông đã bị
Campuchia cản trở liên tiếp, do Phnom Penh chịu áp lực kinh tế từ Trung
Quốc.
Nguy cơ nợ công tăng cao trong nhiều nước Đông Nam Á tăng lên khi Trung
Quốc tăng cường sức mạnh kinh tế khu vực. Tính trung bình giá trị
thương mại của Trung Quốc với mỗi nước ASEAN cho thấy Trung Quốc chiếm
20% thị trường xuất khẩu và 22% thị trường nhập khẩu của khu vực, tăng
từ 7% và 13% năm 2006 tương ứng. ASEAN là khu vực nhạy cảm nhất bởi vì
nó là một trong những khu vực phụ thuộc thương mại nhất trên thế giới,
với xuất khẩu hàng hóa trên 1,2 nghìn tỷ USD, hay 54% tổng GDP của khu
vực này.
Khi Bắc Kinh tiếp tục mở rộng ảnh hưởng chính trị của mình thông qua các
dự án như Một vàng đai-Một con đường và Ngân hàng Đầu tư Cơ sở Hạ tầng
Châu Á (AIIB), đòn bẩy kinh tế là một tính năng liên tục trong chiến
lược của Trung Quốc.
Thay vì theo đuổi một cách tiếp cận hẹp trong khu vực, Hoa Kỳ phải phát
triển một chiến lược đa chiều nhằm củng cố an ninh kinh tế khu vực, giúp
khu vực này tăng cường tự trị và giảm sự phụ thuộc tài chính vào Trung
Quốc.
Thứ nhất, Hoa Kỳ nên tăng cường quan hệ kinh tế với Đông Nam Á. Trong
khi Trung Quốc đã gia tăng sự hiện diện về mặt kinh tế từ năm 2006, Hoa
Kỳ đã giảm từ 16% xuất khẩu và 7% nhập khẩu với các nước ASEAN xuống còn
10% xuất khẩu và 6% nhập khẩu.
Mặc dù chính sách "Hoa Kỳ trước tiên" có thể hạn chế việc thương lượng,
Nhà Trắng có thể thương lượng lại Thỏa thuận Đối tác xuyên Thái Bình
Dương (TPP) theo cách thức tự vệ tốt hơn cho người lao động Hoa Kỳ. Nếu
điều này chứng tỏ không đứng vững, Hoa Kỳ nên tìm cách thiết lập các
thỏa thuận thương mại song phương, mà Tổng thống Trump ưa thích. Sự tham
gia tích cực hơn vào kinh tế của khu vực sẽ thúc đẩy hơn nữa các mối
quan hệ kinh tế, tăng các lợi ích thương mại lâu dài trong một khu vực
có tăng trưởng năng động và hạn chế sự bất đối xứng ngày càng tăng của
thương mại giữa Mỹ và ASEAN.
Thứ hai, Hoa Kỳ nên khuyến khích các cơ hội thay thế cho thương mại và
đầu tư. Mặc dù tăng trưởng song phương nhanh chóng trong khu vực ASEAN,
thương mại với khu vực đã giảm 2% trong giai đoạn 2013-2016. Hoa Kỳ nên
tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện kế hoạch hội nhập kinh tế
ASEAN của Cộng đồng để tạo ra một thị trường và cơ sở sản xuất duy nhất.
Hợp tác quốc tế để tăng ngân quỹ cho Quỹ Cơ sở hạ tầng ASEAN của Ngân
hàng Phát triển Châu Á (ADB) cũng sẽ đáp ứng nhu cầu thiết yếu.
Hoa Kỳ không được cản trở nỗ lực tiếp tục của Nhật Bản để thúc đẩy TPP
và hỗ trợ các nỗ lực để chống lại Trung Quốc bằng cách thúc đẩy FDI.
Cũng nên tìm cách lồng ghép thêm Ấn Độ vào thương mại khu vực, đặc biệt
là khi Trung Quốc tìm cách tiếp cận Ấn Độ Dương.
Thứ ba, Hoa Kỳ nên hợp tác với các đối tác như Nhật Bản, ADB và Ngân
hàng Thế giới để đảo ngược xu hướng giảm dần và tăng viện trợ phát triển
chính thức (ODA) cho những quốc gia cần tài chính. Việc thiếu hụt viện
trợ tạo ra một khoảng trống để Trung Quốc lấp đầy. Ví dụ ở Phi-líp-pin,
Duterte đang yêu cầu thêm 2,7 tỷ USD cho các khoản vay cơ sở hạ tầng từ
Trung Quốc sau khi đã nhận 9 tỷ đô la Mỹ vào cuối tháng 10, bất chấp
những thống kê nghèo nàn về hỗ trợ cơ sở hạ tầng ở đó của Bắc Kinh.
Thái Lan, Malaysia và Inđônêxia nhận được viện trợ ít hơn Philippines,
và Trung Quốc hiện đang đòi khả năng tịch thu tài sản của các chính phủ
mà không trả nợ đúng hạn. Tất cả điều này cho thấy rằng bây giờ là thời
điểm tốt để Hoa Kỳ gia tăng ODA. Washington cũng nên đóng góp nhiều hơn
cho AIIB để định hình sự phát triển của nó và giảm sự phụ thuộc vào
nguồn tài trợ cơ sở hạ tầng song phương của Trung Quốc.
Cuối cùng, Hoa Kỳ nên có các biện pháp để chống lại nỗ lực của Trung
Quốc trong việc trở thành nhà sản xuất độc quyền toàn cầu các mặt hàng
quan trọng. Một minh chứng là Trung Quốc đã cắt giảm xuất khẩu đất hiếm
sang Nhật Bản trong năm 2010, Bắc Kinh sẵn sàng từ chối cung cấp các
nguyên vật liệu chính cho những thị trường mà nó có khả năng chi phối.
Mặc dù WTO có thể cố gắng duy trì các quy định thương mại trong trường
hợp có tranh chấp, nhưng trước mắt cũng cần có sự hợp tác để ngăn chặn
việc độc quyền xuất khẩu của Trung Quốc trong tương lai.
*
Jacob Merkle là nghiên cứu viên của Diễn đàn Thái Bình Dương, một bộ phận của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS).

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét