Hàng rào kẽm gai và tường ngăn cách đang trở thành công cụ để
các nước bảo vệ đường biên và chủ quyền trước mối đe dọa khủng bố và di dân.
Trong một thế giới bị giằng co giữa tiến trình toàn cầu hóa ngày một phát triển
và thu mình bảo vệ bản sắc, những thành lũy này ngày càng xuất hiện nhiều, song
song với những biện pháp an ninh.
Khi bức tường Berlin sụp đổ năm 1989, châu Âu và phương Tây
từng nghĩ là Chiến tranh lạnh đã chấm dứt và sự chia rẽ giữa các dân tộc đã biến
mất. Vậy mà gần 30 năm sau, số lượng tường và hàng rào lại tăng lên gần như khắp
nơi trên thế giới. « Bức tường lớn nhất, đẹp nhất »có thể sẽ là dự án kéo dài «
bức tường của Bush » ngăn cách biên giới Mỹ và Mêhicô và được tổng thống Trump
nâng thành thách thức chính trị quan trọng trong nhiệm kỳ của ông.
Thế giới có khoảng 70-75 bức tường biên giới
Tác giả Rémy Ourdan, trên nhật báo Le Monde (05/02/2018), nhận
định chính sách « Đường biên - Tường rào là lời đáp trả cho những nỗi sợ mới ».
Số lượng tường hoặc hàng rào chiếm từ 6% đến 18% trên tổng số hơn 250.000 km
biên giới đường bộ trên trái đất. Tuy nhiên, con số này giao động tùy theo « định
nghĩa » rào cản, đường biên của mỗi nhà nghiên cứu.
Ông Rémy Ourdan lấy ví dụ thống kê của nhà nghiên cứu chính
trị Elisabeth Vallet, thuộc đại học Québec ở Montréal (UQAM), « trên thế giới,
có khoảng 70 đến 75 bức tường đã được xây hoặc thông báo sẽ được khởi công,
riêng những bức tường đã tồn tại trải dài khoảng 40.000 km ». Con số này thấp
hơn, khoảng 60 bức tường, theo thẩm định của hai nhà báo phụ trách bộ phận bản
đồ và đồ họa của nhật báo Le Monde. Còn với một số chuyên gia khác, chỉ có khoảng
20 hoặc 10 hàng rào trên thế giới.
Tuy nhiên, các chuyên gia này đều có chung một nhận định :
thời kỳ xây tường đang trở thành trào lưu. Từ hàng rào, chướng ngại vật, tường
thật cho đến những « bức tường điện tử, tường ảo » như Brazil đang muốn thiết lập
ở biên giới với 10 nước, tất cả đều phản ánh thực trạng thế giới chính trị hiện
nay.
Theo nhà nghiên cứu Elisabeth Vallet, có ba nguyên nhân giải
thích cho trào lưu này : hậu quả từ sau loạt khủng bố của Al Qaida nhắm vào Mỹ
ngày 11/09/2001 ; nhu cầu đảm bảo an ninh trước mối đe dọa thánh chiến và nhập
cư ; khẳng định chủ quyền và biên giới quốc gia. Bà giải thích :
« Sau khi số lượng tường tăng cao từ năm 1945 - và còn khoảng
15 hàng rào ngăn cách kể từ khi bức tường Berlin sụp đổ - hiện tượng này trở
nên phổ biến trong những năm 2000. Từ năm 2003 số lượng tường tăng nhanh sau sự
kiện 11/09, nhưng thực ra việc xây dựng này đã bắt đầu từ trước năm 2001 và
nguyên nhân sâu xa có lẽ là do toàn cầu hóa. Tường rào là lời đáp trả tức thì của
các chính trị gia trước tâm trạng mất quyền kiểm soát lãnh thổ của người dân,
làn sóng nhập cư và các giá trị quốc gia ».
Nhà nghiên cứu Alexandra Novosseloff, kiêm chuyên gia của
Liên Hiệp Quốc, cũng có cùng nhận định : « Năm 2001 là thời điểm quan trọng đối
với thế giới. Những bức tường mới được xây dựng để chống chọi những nỗi sợ toàn
cầu mới, như khủng bố và di dân. Chúng là một trong những giải pháp an toàn
trong quan điểm an ninh của thế giới ». Nhà nghiên cứu Pháp Michel Fourcher nhấn
mạnh « khẳng định đường biên giới là điều không tránh được : nếu vẫn còn những
vấn đề về an ninh, thì sẽ còn nhu cầu về bảo vệ. Và công việc bảo vệ đầu tiên,
chính là đường biên giới ».
Xu hướng xây tường bảo vệ chủ quyền, chống khủng bố và di
dân
Trào lưu dựng tường biên giới trở nên phổ biến sau Thế Chiến
II, khi thế giới bị chia thành hai cực tư tưởng : cộng sản và tư bản. Berlin trở
thành biểu tượng của giai đoạn này, từ 1961 đến 1989. Hiện thế giới vẫn còn một
đường biên giới hàng rào kẽm gai thể hiện rõ tư tưởng Chiến tranh lạnh, ngăn
cách hai miền Triều Tiên, được dựng từ năm 1953 và là « bức tường »cổ nhất
trong thế giới hiện đại. Tuy nhiên, bức tường này lại nhằm ngăn chặn người dân
trong nước tiếp xúc với thế giới bên ngoài.
Số lượng tường rào biên giới tăng dần từ thập niên 2000 và
do nhiều yếu tố khác nhau. Một số tường là kết quả của chiến tranh, như giữa
Israel và Liban, giữa Koweit và Irak, hoặc bên trong một số thành phố như
Belfast hay Bagdad. Ngoài ra, hàng rào an ninh được Israel xây từ năm 2002 tại
Cisjordanie là một trong những « bức tường » gây nhiều tranh cãi nhất thế giới,
bị Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc lên án năm 2003 và bị Tòa án Công lý Quốc tế La
Haye phản đối năm 2004.
Một số khác nhằm mục đích phân chia biên giới chưa chính thức
tồn tại, như tường ngăn Maroc với Tây Sahara, ngăn Thổ Nhĩ Kỳ với Chypre, ngăn Ấn
Độ với vùng Cachemire. Cuối cùng, còn có những tường rào nhằm ngăn làn sóng nhập
cư như tường ngăn Ấn Độ với Bangladeh, giữa Hoa Kỳ và Mêhicô, giữa Tây Ban Nha
và Maroc, hoặc giữa hai thành phố Ceuta, Melilla (thuộc Tây Ban Nha) với phần
lãnh thổ Maroc ở Bắc Phi.
Châu Âu phòng thủ
Hàng rào ngăn cách Ceuta, Melilla không phải là chướng ngại
vật chống di dân duy nhất trên lãnh thổ châu Âu, mà hiện còn nhiều hàng rào như
vậy được dựng lên tại Hy Lạp, Bulgari, Hungary.
Pháp cũng đang cố tìm cách ngăn chặn người nhập cư vượt biển
Manche sang Anh Quốc, với dự án xây một bức tường kéo dài cao 4 mét ở Calais. Vậy
mà, vào năm 2015, thông qua phát biểu của ngoại trưởng Laurent Fabius, Pháp từng
chỉ trích hàng rào mà Hungary xây ở biên giới Serbia là « đi ngược lại với các
giá trị của châu Âu ». Một bức tường chia rẽ ngay trong lòng Liên Hiệp Châu Âu
còn trái ngược với những giá trị căn bản về sự liên kết giữa các dân tộc và quyền
tự do đi lại. Theo cách gọi của nhà nghiên cứu Elisabeth Vallet, đây là « bức
trường thành văn minh : một bức tường giữa một quốc gia phương Bắc và một quốc
gia phương Nam », để ngăn làn sóng nhập cư đến từ phương Nam.
Về mặt chính trị, xây một bức tường thường được cho là cách
thể hiện sức mạnh, nhưng thực ra, lại là một dấu hiệu thể hiện điểm yếu. Dĩ
nhiên, theo nhà nghiên cứu Alexandra Novosseloff, « một bức tường không bao giờ
hiệu quả trong dài hạn. Nhưng đôi khi, nó mang lại hiệu quả trong ngắn hạn, hoặc
tạo cảm giác là giới chính trị đã làm điều gì đó ».
« Bức tường Bush » mà tổng thống Trump đang muốn kéo dài là
một ví dụ, giúp giảm một nửa số người nhập cư trái phép từ Mêhicô và Trung Mỹ.
Tuy nhiên, minh chứng điển hình nhất vẫn là bức tường Berlin, được xây trong
vòng một đêm (12-13/08/1961). Trước khi có bức tường, hàng tháng có khoảng
30.000 người Đông Đức trốn sang Tây Đức và sau khi bức tường xây xong, người
dân Đông Đức bị khép kín trong suốt 28 năm.
Châu Âu cũng phải đối mặt với hiện tượng tương tự như ở Mỹ,
như nhận định của Michel Fourcher : « Chính sự hiểu biết thế giới đẩy mạnh quá
trình di dân : người ta biết rằng « ở bên kia » tốt hơn, vì vậy họ cứ đi. Những
hàng rào chống nhập cư chỉ làm chậm lại hoặc đổi hướng các luồng nhập cư mà
thôi ». « Giữa Ceuta, Melilla, quần đảo Canaries, Hy Lạp, giữa những đường biên
giới trên bộ và Địa Trung Hải, đó là một hệ thống bình thông nhau. Không một bức
tường nào có thể ngăn chặn làn sóng di dân đến châu Âu », theo ghi nhận của
Alexandra Novosseloff.
Trong một xã hội bị giằng xé giữa một bên là tiến bộ của
toàn cầu hóa và bên kia là bảo vệ bản sắc, dường như ý muốn phòng vệ đằng sau bức
tường ngày càng thắng thế. Bức tường là biểu hiện của sự sợ hãi, là biểu tượng
của sự đối chọi giữa một bên là người chu du thế giới, bị buộc tị nạn hoặc di
dân tự nguyện và bên kia là một Nhà nước thu mình phòng thủ.
Vạn Lý Trường Thành, bức tường biên giới chính trị đầu tiên
Vạn Lý Trường Thành chính là bức tường chính trị đầu tiên
trên thế giới. Được khởi công vào thế kỷ thứ VII-TCN, bức tường trải dài đến
50.000 km trong nhiều triều đại và có vị thế khác nhau tùy theo từng giai đoạn
lịch sử : chiến tuyến, chiến lũy, biên giới.
Ngoài ra, còn phải kể đến những bức tường lớn khác mang tính
chính trị trong quá khứ, như phòng tuyến biên giới thời La Mã cổ đại xây từ thế
kỷ I-TCN đến thế kỷ III. Hoàng đế Julius Cesar là người châu Âu đầu tiên xây tường
biên giới. Dưới thời hoàng đế Hadrianus, khoảng 7.000 km thành lũy đã được xây
dựng. Từ đó, những bước tường vẫn được nhắc đến trong lịch sử của các triều đại,
vương quốc, Nhà nước, qua nhiều thế kỷ và ít được nhắc đến hơn vào thế kỷ XX.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét