
Hà Tiên ngày nay là thị xã vùng biên nhỏ nhắn, bình yên, thơ mộng nép mình bên bờ vịnh Thailand. Hà Tiên của hai trăm năm trước là một trong những trung tâm kinh tế sôi động nhất ở Đông Nam Á, nơi diễn ra các tranh chấp chính trị và quân sự không ngừng giữa người Việt, người Thái, người Khmer và các cộng đồng người Hoa. Lịch sử của vùng đất này là minh chứng sống động cho sự đa dạng trong thống nhất của quá trình hình thành nên lãnh thổ và dân tộc Việt Nam.
Vùng đất này nằm giữa các diễn ngôn lịch sử rất khác biệt, nhiều khi bị trùm phủ dưới các huyền thoại tạo ra bởi chủ nghĩa dân tộc. Bài viết này chỉ ra những nhân tố cốt lõi làm nên sự thịnh vượng của Hà Tiên và tìm kiếm sự gắn kết của nó đối với lịch sử Việt Nam, như một phần của công cuộc định hình nên không gian của nước Việt Nam hiện đại.
Tại sao việc khôi phục quá khứ huy hoàng của vùng đất này là vấn đề
quan trọng? Vì nó góp phần làm sáng rõ nhiều vấn đề nhận thức về quá
trình hình thành lãnh thổ, biên giới và các đơn vị hành chính của Việt
Nam. Đặc biệt đây là khu vực có vị trí chiến lược về an ninh-quốc phòng
và tiềm năng kinh tế trong tương lai, gắn liền với Phú Quốc và hành lang
phát triển kinh tế dọc theo bờ vịnh Thailand. Lịch sử truyền thống Việt
Nam ít chú ý đến tính đa dạng địa phương và quá trình sáp nhập lãnh
thổ. Điều này không những không giúp độc giả hiểu được công lao khai
phá, quá trình khai thác lãnh thổ, mở rộng đất đai, sáp nhập đất đai của
thế hệ đi trước, mà còn gây trở ngại cho sự mở rộng tri thức về quá
trình phát triển lãnh thổ Việt Nam và những cách thức đa dạng để trở
thành Việt Nam. Đó là cách chúng ta tôn trọng sự thống nhất trong đa
dạng, và trân trọng công lao của tiền nhân, dù là họ Mạc Hà Tiên, các di
dân Hoa kiều, cộng đồng người Khmer trên lãnh thổ Việt Nam hay chúa
Nguyễn, và vương triều Nguyễn. Nhận thức lịch sử đa chiều cũng là cách
củng cố lập luận về quá trình xác lập chủ quyền, lãnh thổ của Việt Nam
đối với vùng đất này. Những diễn biến phức tạp và sự năng động của Hà
Tiên cho thấy lịch sử không đơn thuần như mô tả của người Campuchia rằng
khu vực này vốn là “lãnh thổ”của họ.
Cốt lõi của vấn đề ở chỗ Hà Tiên là vùng đất có lịch sử đa dạng, nằm
giữa các dự án chính trị, tranh chấp quyền lực và lãnh thổ ở Đông Nam Á
lục địa thời sơ kỳ hiện đại, gắn kết nhiều nhóm cư dân khác nhau. Liên
hệ chính trị, lãnh thổ của nó với người Việt-Khmer-Thái là phức tạp.
Điều quan trọng là Hà Tiên không chỉ hành động với tư cách là một chư
hầu lệ thuộc mà tính năng động và tự chủ của nó giúp định hình khuynh
hướng chính trị-lãnh thổ mà nó gia nhập. Sự sáp nhập của Hà Tiên vào
lãnh thổ Việt Nam vì thế không chỉ đơn thuần là sự mở rộng không gian
của người Việt mà còn là sự chủ động gia nhập của Hà Tiên vào không gian
chính trị này. Sự lựa chọn này giúp định hình một con đường để trở
thành Việt Nam hiện đại: con đường của Hà Tiên.
Các huyền thoại về vùng đất Hà Tiên
Trong khi các sách lịch sử của Việt Nam thường bắt đầu bằng sự kiện
năm 1708 khi Mạc Cửu phái người đến Phú Xuân (Huế) xin được bổ nhiệm cai
quản Hà Tiên, và sau đó được chúa Nguyễn phong chức Tổng binh (theo Đại
Nam Thực Lục). Sự kiện được cho là đánh dấu vùng đất này trở thành một
phần của lãnh thổ Đàng Trong. Lịch sử Campuchia mô tả một diễn trình
hoàn toàn khác. Một thương nhân người Quảng Đông rời Trung Hoa năm 1671
đi qua Phillipines và Java. Cuối cùng ông ta đến triều đình Chân Lạp ở
Udong và giành được sự tin tưởng của nhà vua Chey Chettha IV (Ang Sor).
Sự ghen tị của các quan chức cấp cao người Khmer cuối cùng buộc ông phải
xin nhà vua cho ra cai quản vùng đất Banday Mas. Nhà vua Khmer sau đó
chấp thuận và ban cho ông danh hiệu Okya (Trần 1979:1537).
Một phần phiên bản của câu chuyện này được kể lại bởi Vũ Thế Dinh,
một gia thần của dòng họ Mạc viết năm 1818 trong Hà Tiên trấn Hiệp trấn
Mạc thị gia phả (Gia phả dòng họ Mạc của quan Hiệp trấn Hà Tiên). Tuy
nhiên nó cũng cung cấp thêm nhiều góc nhìn thú vị về cách thức dòng họ
này xây dựng một chính thể tự trị đứng giữa các nhà nước của người Việt,
người Khmer và người Thái. Diễn ngôn lịch sử này chú ý nhiều hơn đến
tính năng động của họ Mạc và sự chủ động lựa chọn của họ trong mối liên
minh/ phiên thuộc với người Việt. Dù được phong Okya, danh hiệu dành cho
quan chức cao cấp Khmer (David Chandler 2000: 108-111), Mạc Cửu thấy rõ
địa vị bấp bênh của mình trong một vương triều xa lạ. Khi dừng chân ở
vùng đất Banday Mas, ông nhận thấy nơi đây là một cảng thị tấp nập với
thương nhân người Hoa, Việt, Khmer, Malay tụ hội, nên tìm cách để được
sự cho phép của vua Chân Lạp mở các sòng bạc nhằm thu thuế. Như nhận
định của sử gia Li Tana, đây chính là các sòng bạc đầu tiên ở Đông Nam Á
được mở bởi thương nhân Hoa kiều. Chính sự thịnh vượng này cho phép họ
Mạc dần kiểm soát khu vực duyên hải và cảng biển Hà Tiên để xây dựng một
trung tâm kinh tế-chính trị riêng (Li Tana 2004:806). Cũng vì nhận thấy
sự đe dọa của Chân Lạp ở phía Bắc và Siam ở phía Tây mà Mạc Cửu lại tìm
cách tìm đến Phú Xuân.
Những người phương Tây cũng có một phiên bản cho riêng mình về câu
chuyện Hà Tiên, vương quốc có tên gọi Ponthaimas. Alexander Hamilton đến
vùng đất này năm 1718, gọi đây là cảng thứ hai của Campuchia. Thương
nhân người Pháp Pierre Poirve mô tả đó là vương quốc được tạo ra bởi một
thương nhân người Hoa, nhưng nằm dưới sự ảnh hưởng của Siam. Trong tham
luận năm 1768 trình bày trước Viện Hàn Lâm Lyon, ông mô tả họ Mạc như
những thương nhân khôn khéo, chăm chỉ, biết cách khai phá vùng đất trù
phú để trở nên thịnh vượng, lại biết sử dụng chính sách ngoại giao khéo
léo để được các nước láng giềng hùng mạnh che chở. Hà Tiên vì thế không
chỉ là một cảng thị thương mại sầm uất mà còn là “kho lúa dồi dào nhất
của phần đất miền Đông châu Á”, nơi người Malay, Nam Hà (Đàng Trong),
Siam đều trông vào để bảo đảm cho những nạn đói.
Hà Tiên cũng xuất hiện trong mô tả của người Trung Quốc. Một quan
chức nhà Thanh đã ghé qua đây những năm 1740, và ghi chép về vương quốc
có tên Cảng Khẩu/ Cảng Khẩu Quốc, nằm dưới sự ảnh hưởng của An Nam (Đàng
Trong) và Siam. Tuy vùng đất được xây dựng bởi những cư dân rời bỏ
Trung Hoa vào cuối Minh-đầu Thanh, quan chức nhà Thanh ngạc nhiên về sự
thịnh vượng, thấm nhuần văn hóa Hán của họ, những người thậm chí còn xây
cả Văn Miếu (Hoàng triều Văn hiến thông khảo, 1747). Chính vì điều này
mà Hà Tiên cũng được biết đến ở Đàng Ngoài của chính quyền Lê-Trịnh. Lê
Quý Đôn dành mối quan tâm đặc biệt đối với những thành tựu văn hóa của
vùng đất này, đặc biệt là ngợi ca “Không thể bảo ở hải ngoại xa xôi
không có văn chương”.
Lời tựa của văn bản Hà Tiên Thập Vịnh. Nguồn: EFEO Microfilm, A.441.
Bản thân Hà Tiên cũng tạo ra các huyền thoại cho riêng mình. Các
huyền thoại sẽ giúp vùng đất này trở nên hấp dẫn, có khả năng thu hút di
dân, thương nhân, tìm kiếm tính chính thống cho sự cai trị của dòng họ,
và tìm kiếm các mối quan hệ quốc tế. Từ chuyện các nàng tiên xuất hiện
trên sông Giang Thành, đào được hũ bạc, đến bức tượng Phật và ánh sáng
huyền bí ở Lũng Kỳ báo hiệu sự ra đời của Mạc Thiên Tứ. Tất cả tạo nên
diễn ngôn chính trị, tôn giáo, và dung hợp xã hội mà họ Mạc muốn gửi bức
thông điệp đến các nhóm cư dân ven vùng vịnh. Trong một bức thư năm
1742 viết bằng chữ Khmer gửi đến chính quyền Mạc Phủ Tokugawa, Mạc Thiên
Tứ tự xưng mình là Neak Somdec Preah Sotoat và tự phong danh hiệu “vua
của Campuchia”.
Trong lúc các huyền thoại này có cốt lõi của các diễn ngôn lịch sử
gắn Hà Tiên với dòng di cư của người Hoa vào cuối thời Minh đầu thời
Thanh xuống Đông Nam Á. Họ can dự vào một loạt các sự kiện kinh tế,
chính trị, và quân sự khắp khu vực, từ chiến tranh ở Thailand, xung đột ở
đảo Java, Manila, cho đến việc điều hành các khu khai mỏ thiếc dọc theo
bán đảo Malay và quần đảo Indonesia làm xáo trộn bức tranh chính trị
Đông Nam Á, và khỏa lấp những khoảng trống vắng nhà nước tập quyền ở khu
vực. Để rồi sau đó, đến lượt các vùng đất này trở thành nơi tranh chấp
của những vương quốc tập quyền khu vực.
Khung cảnh cho sự thịnh vượng của Hà Tiên
Sự thịnh vượng của Hà Tiên đến từ nhiều nhân tố khác nhau, bao gồm vị
trí địa lý, khung cảnh thương mại khu vực và toàn cầu, và sự gia tăng
tương tác quân sự dọc theo hạ lưu Mekong. Vùng đất này nằm giữa tuyến
giao lưu của các luồng thương mại, các nguồn hàng, các dự án chính trị,
di dân, và các nền văn hóa từ các vùng núi của Lào và Campuchia xuống,
người Malay từ bán đảo Malay-quần đảo Indonesia, người Thái từ phía Tây,
và các nhóm người Hoa xung quanh vùng vịnh, và nam tiến của người Việt.
Hà Tiên nằm ngay trên đầu mối của một trong những tuyến thương mại cổ
xưa nhất ở Đông Nam Á, kết nối Ấn Độ Dương với biển Đông qua eo Kra từ
các thế kỷ gần CN. Óc Eo, cảng thị quan trọng nhất của vương quốc cổ Phù
Nam cũng năm trên trục giao thương này.
Sự phát triển của Hà Tiên diễn ra trong một khung cảnh quan trọng của
lịch sử hạ lưu sông Mekong vào thời sơ kỳ hiện đại. Sự mở rộng của các
dự án nhà nước tập quyền của người Việt, Khmer, và Thái đến vùng đông
nam của bán đảo Đông Dương. Các sử gia về Đông Nam Á gọi đây là những
vùng đất tự trị cuối cùng ở châu Á trước khi chúng bị sáp nhập thành
lãnh thổ của các nhà nước tập quyền (“the Last Stand of Asian
Autonomies”: Anthony Reid 1997). Các học giả khác thì gọi vùng đất này
là “đường biên nước” (water frontier), nơi chứng kiến khoảng trống quyền
lực nhà nước cuối cùng ở Đông Nam Á với sự dịch chuyển tự do của dòng
di cư, thương mại, và xung đột chính trị (Li Tana-Nola Cooke 2004).
Khung cảnh thương mại khu vực trở thành môi trường nuôi dưỡng cho sự
thịnh vượng của Hà Tiên, trong một thế kỷ huy hoàng và cực kỳ sôi động
trên vùng vịnh Thailand. Trước hết là sự mở rộng của người Thái xuống
phía nam, tiến ra biển và bắt đầu nhòm ngó vùng duyên hải từ
Chanthaburi, Trat đến Hà Tiên, nơi tập trung các trung tâm sản xuất gỗ,
lúa gạo, hải sản, đóng thuyền, lâm sản như đậu khấu, da hươu, gỗ đàn
hương, ngà voi… Khi Ayutthaya bị người Miến đốt cháy vào năm 1767, người
Thái đã từ bỏ kinh đô phía Bắc và bắt đầu chuyển xuống
Thonburi-Bangkok, chỉ cách vùng vịnh Thailand chưa đầy 20 km. Cùng lúc
đó, người Malay bắt đầu gia tăng các hoạt động thương mại lên phía Bắc
của vùng vịnh, dùng thiếc và vũ khí phương Tây đổi lấy gạo.
Trung Quốc là một trong các thị trường quan trọng của Hà Tiên. Thế kỷ
XVIII được coi là thời kỳ “thịnh trị” Khang Hy-Ung Chính-Càn Long, đánh
dấu với sự gia tăng dân số gấp đôi từ 150 triệu lên hơn 300 triệu (từ
năm 1700 đến năm 1800), dẫn đến nhu cầu lương thực gia tăng mạnh dọc
theo duyên hải từ Quảng Đông lên Phúc Kiến. Các cuộc di cư xuống phía
Nam buôn bán và nhập khẩu gạo đều hướng đến hai đồng bằng là Mekong và
Chao Phraya, trong thời kỳ được gọi là “thế kỷ người Hoa” ở Đông Nam Á
(1740-1840) (Anthony Reid 2004). Hà Tiên nằm ở trung tâm của hai vùng
cung cấp lúa gạo chủ đạo ở Đông Nam Á. Với vị trí đó, Hà Tiên đóng vai
trò là một trong những hải cảng quan trọng nhất ở Đông Nam Á thế kỷ
XVIII, theo đề xuất của Li Tana và Paul A. Van Dyke trong khảo cứu của
họ về hệ thống trao đổi giữa Quảng Châu và biển Đông (2007). Bảng dưới
đây cung cấp số liệu về lượng thiếc nhập khẩu của Quảng Châu từ Đông Nam
Á. Hà Tiên ở đây xuất hiện với tên gọi “Cancao” (Bảng 1).
Bảng 1. Nhập khẩu thiếc của Quảng Châu từ Đông Nam Á, 1758-1774. Đơn
vị: piculs: 60.479 kg. Nguồn: Li Tana và Paul A. Van Dyke 2007.
Phần mô tả về Hà Tiên trong bản đồ Châu Á của Pierre M. Lapie.
Nguồn: Atlas Universel De Geographie Ancienne Et Moderne, Paris : Eymery
Fruger et Cie, [1833].
Nguồn thiếc này, theo gợi ý của sử gia Barbara W. Andaya (ĐH Hawaii)
trong công trình nghiên cứu về lịch sử đảo Sumatra thế kỷ XVIII, là đến
từ Palembang và Bangka – các trung tâm sản xuất thiếc lớn nhất ở Đông
Nam Á sơ kỳ hiện đại (Andaya 1993, Reid 2004). Không chỉ là điểm trung
chuyển như ghi chép của các thuyền Hà Lan thường xuyên ghé qua Hà Tiên,
lấy hạt tiêu đổi muối và gạo, Hà Tiên còn là đầu mối thông thương của hạ
lưu Mekong ở thế kỷ XVIII. Không chỉ kết nối với vùng núi Đậu Khấu, cao
nguyên ở Lào và Cambodia, mà còn hệ thống thương mại dọc theo các kênh
rạch và vùng ngập nước bờ Tây sông Hậu. Giáo sĩ người Pháp Levavasseur
đã đi qua các vùng ngập lụt này và thông báo rằng ông ta đã thấy hơn 50
thuyền mành đang trao đổi hàng hóa.
Sức mạnh của một trung tâm giao thương không chỉ cho phép vùng đất
này có khả năng đúc tiền riêng, mà còn được biết đến như một huyền thoại
về sự thịnh vượng xung quanh biển Đông và vịnh Thailand. Một chỉ dấu
chính là việc vùng đất này được biết đến bởi nhiều nhóm người với nhiều
tên gọi. Đại Nam Nhất Thống chí gọi vùng đất này là Mang Khảm, Trúc
Phiên Thành, Đồng trụ trấn. Người Hoa gọi vùng này là Phương Thành, Cảng
Khẩu, Cảng Khẩu Quốc. Tên này có lẽ được phiên lại trong các ghi chép
Phương Tây là Cancao, trong khi tên gọi khác là Ponthaimas có lẽ đến từ
tiếng Khmer và Thái. Người Khmer gọi vùng đất này là Peam hay Bantay
Mas (Bức tường vàng), người Malay gọi là Pantai Mas (Bờ biển Vàng) hay
Kuala (Cửa sông), người Thái gọi là Ponthaimas, Phutthaimas hay
Ban-Thaay-Mas (Cánh cổng vàng).
Giai đoạn phát triển đỉnh cao của Hà Tiên là giữa những năm 1740 và
1760 sau cuộc đàn áp người Hoa ở Java và tàn phá Ayutthaya của người
Miến. Trong các thập kỷ này, Hà Tiên trở thành cảng quan trọng nhất
trong vùng vịnh Thailand giao thương với Trung Quốc. Hàng hóa như thiếc,
đồng, gạo, hạt tiêu, muối, và sản phẩm rừng là nguồn cung cấp quan
trọng cho Quảng Châu.
Sự gắn kết của Hà Tiên vào Việt Nam
Có sự liên hệ tự nhiên đặc biệt giữa Hà Tiên với chính quyền Đàng
Trong của các chúa Nguyễn. Cam kết chính trị và quân sự mạnh mẽ của vùng
đất này với Phú Xuân không chỉ trong cuộc chiến tranh với Chân Lạp và
Siam, mà còn là công cuộc phục hưng và cuộc chiến tranh 30 năm của
Nguyễn Ánh ở vùng hạ lưu Mekong, cũng như đối với việc hoạch định biên
cương nhà Nguyễn sau này (xem thêm Tạp chí Tia Sáng số 17 ngày
5/9/2017).
Hà Tiên sớm can dự, thậm chí là trở thành tâm điểm của các cuộc chiến
tranh này và gia nhập vào không gian “Việt Nam”. Không chỉ chấp nhận
danh hiệu Tổng Binh năm 1708 và Tổng Binh năm 1735, họ Mạc đã trở thành
một đồng minh/ chư hầu quan trọng của Đàng Trong trong cuộc tranh chấp
quyền lực khu vực. Thực tế là họ Mạc cần chúa Nguyễn để chống lại các
cuộc xâm lược thường xuyên của người Thái và Khmer bởi vị thế cực kỳ dễ
bị tập kích của Hà Tiên. Người Việt cũng cần kiểm soát vùng đất này như
cửa ngõ bảo vệ cho dự án lãnh thổ ở hạ lưu Mekong của mình. Sự gia nhập
của Hà Tiên vào Việt Nam vì thế là một quá trình tự nhiên.
Họ Mạc đã tìm cách gắn kết với người Việt bằng nhiều cách thức khác
nhau. Mạc Cửu kết hôn với người vợ Việt ở Biên Hòa là Bùi Thị Lẫm, trong
khi em gái ông kết hôn với Trần Đại Định (con trai của Trần Thượng
Xuyên ở Đồng Nai). Hà Tiên còn tìm kiếm sự kết nối với không gian Việt
Nam thông qua góc độ văn hóa, tôn giáo. Sử gia người Singapore, Claudine
Ang trong luận án về các dự án văn minh và nhà nước ở vùng biên của
Việt Nam (Cornell University 2012) đã làm nổi bật vai trò của những
nhân vật như Nguyễn Cư Trinh, Mạc Thiên Tứ trong việc định hình nên cấu
trúc mở rộng của lịch sử Đàng Trong. Đó cũng chính là đóng góp của họ
đối với lịch sử hình thành nên hình thể Việt Nam hiện đại. Cũng chính từ
những vùng đất trù phú như Hà Tiên, Phú Quốc, Gia Định… mà vương triều
Nguyễn được thiết lập năm 1802, triều đại đầu tiên thống nhất lãnh thổ
Việt Nam như chúng ta được thừa hưởng ngày nay.
Vai trò của vùng đất này trong việc định hình nên cấu trúc lịch sử
Việt Nam sẽ còn tiếp tục ở thế kỷ XIX. Thời kỳ Minh Mệnh, cùng với dự án
chính trị thống nhất lãnh thổ là việc xóa bỏ chế độ thế tập cai trị tại
các vùng biên và vùng núi sẽ lần đầu tiên biến vùng đất này thành đơn
vị hành chính trực thuộc Huế. Trong khi các thủ lĩnh miền núi được thay
thế bằng các quan lại miền xuôi do Huế cắt cử thì ở Hà Tiên, xóa bỏ chế
độ thế tập của dòng họ Mạc. Từ đây tỉnh Hà Tiên ra đời, nơi ghi dấu ấn
các chiến dịch quân sự trên kênh Vĩnh Tế ngăn chặn cuộc xâm lược của
Bangkok, và là trung tâm của hệ thống phòng thủ quân sự vùng biên của
Việt Nam cả trên bộ lẫn trong vùng Vịnh.
Bản đồ tỉnh Hà Tiên thời Nguyễn. Các yếu tố thể hiện trên bản đồ bao
gồm: trụ sở hành chính trong ô vuông: Tỉnh Hà Tiên và Phủ An Biên. Phía
bắc tỉnh Hà Tiên giáp gianh địa giới tỉnh An Giang, phía tây giáp Cao
Miên và phía nam là đảo Phú Quốc. Nguồn: Đại Nam Nhất Thống Dư Đồ, EFEO
Microfilm, A.1600.
Cuối cùng, Hà Tiên là mảnh ghép sống động và không thể tách rời trong
bức tranh toàn cảnh về sự ra đời của lãnh thổ hình chữ S của nước Việt
Nam hiện đại. Lịch sử vốn phức tạp với nhiều tầng bậc và các mối quan hệ
đan xen. Hà Tiên là ví dụ đặc sắc cho một thực thể lịch sử như thế. Nổi
lên giữa các luồng văn hóa, dòng di cư, thương mại, và xung đột khu
vực; để tìm kiếm một phương thức tồn tại, Hà Tiên đã tìm kiếm sự gắn kết
vào không gian lịch sử Việt Nam một cách chủ động. Sự tham gia của vùng
đất này rõ ràng đã làm gia tăng sự đa dạng của cấu trúc không gian và
các diễn trình lãnh thổ của dân tộc Việt Nam. Cuối cùng thì chúng ta tự
hào rằng có nhiều cách thức khác nhau để trở thành Việt Nam hiện đại, và
trong sự thống nhất, đa dạng đó, Hà Tiên góp phần tạo dựng nên diện mạo
của lãnh thổ Việt Nam. Hà Tiên không chỉ là chặng cuối của quá trình
Nam tiến, mà còn là cửa ngõ của Việt Nam mở ra vùng vịnh Thailand và
phía Tây.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét