
Trụ sở tòa soạn báo l'Avenir du
Tonkin (Tương lai Bắc Kỳ) bên Hồ Gươm, Hà Nội.Flickr/Manhhai
Trong giai đoạn thuộc Pháp, Việt
Nam bị chia thành ba vùng tách biệt : Nam Kỳ trở thành thuộc địa và theo luật lệ
của Pháp ; Trung Kỳ và Bắc Kỳ nằm dưới chế độ bảo hộ, vẫn theo luật lệ của triều
Nguyễn nhưng quyền hạn thật nằm trong tay chính phủ Đông Dương.
Tương tự, báo chí tại Việt Nam
cũng bị tách thành hai chế độ riêng biệt. Tại Nam Kỳ, nơi được coi là cái nôi của
nền báo chí Việt Nam, báo tiếng Pháp được hưởng quyền tự do báo chí như tại « Mẫu
Quốc » theo luật ngày 29/07/1881. Bất kỳ người nào mang quốc tịch Pháp đều có
thể ra báo mà không cần xin phép trước. Tuy nhiên, đối với báo chí quốc ngữ hay
bằng bất kỳ ngôn ngữ nào khác tiếng Pháp phát hành trên Đông Dương, cần có giấy
phép của chính phủ.
Sau giai đoạn « tập làm báo » dưới
thời Trương Vĩnh Ký (Pétrus Ký), Huỳnh Tịnh Của (Paulus Của), báo chí Nam Kỳ bắt
đầu đa dạng hơn với một số tờ chính luận của tư nhân phát hành bằng tiếng Pháp
và chữ quốc ngữ, rồi dần lan rộng đến Bắc Kỳ sau Hòa ước Patenôtre 1884 với triều
đình Huế công nhận quyền bảo hộ của Pháp.
Báo tiếng Pháp được tự do phát hành - Báo quốc ngữ phải xin phép
Cũng từ giai đoạn này bắt đầu xuất
hiện nhiều vụ xung đột lợi ích giữa chính quyền và giới thực dân (colons), hoặc
giữa các nhà cầm quyền Pháp tại Đông Dương. Báo chí trở thành công cụ tấn công,
bảo vệ quyền lợi mỗi bên. Trong những năm 1880-1890, toàn quyền Đông Dương bị tờ
Courrier d’Haiphong tấn công, còn đốc lý Hải Phòng là đối tượng chỉ trích của tờ
Le Cancrelat - libre penseur. Nghiêm trọng hơn là một vụ tung « tin giả » của tờ
L’Avenir du Tonkin (Tương lai Bắc Kỳ), được nêu trong bức thư ngày 09/02/1889
(1) của toàn quyền Đông Dương Richaud gửi bộ trưởng Hàng Hải và Thuộc Địa Pháp
:
« Nhà vua (Đồng Khánh) băng hà
ngày 28/01/1889, lúc 8h30 tối và tin này được báo cho Toàn quyền qua điện tín sáng
29. Thế mà tờ L’Avenir du Tonkin đã dán trước cửa văn phòng hai tin nhanh như
sau: « Huế, ngày 26/01/1889 - Hoàng đế An Nam bị đầu độc : người ta còn giữ hy
vọng cứu được ngài» - « Huế, ngày 28/01/1889 - Hoàng đế An Nam đã băng hà » ».
Theo báo cáo của toàn quyền Đông
Dương, lý do là chủ báo De Saint Mathurin bất bình vì chính quyền ngừng đặt mua
và tài trợ tờ L’Avenir du Tonkin để chuẩn bị thành lập Công báo Đông Dương
Journal officiel de l’Indochine.
Vẫn trong bức thư trên, toàn quyền
Đông Dương Richaud nhấn mạnh : « Các cuộc tấn công dai dẳng và mãnh liệt (như của
tờ Cancrelat) nhắm vào công chức đã hạ thấp nhân viên của chúng ta và gây tổn hại
đến ảnh hưởng của Pháp tại một nước mà chúng ta vừa mới chỉ thiết lập được quyền
lực… ».
Có lẽ những sự kiện này buộc
chính quyền Đông Dương phải ban hành sắc lệnh ngày 04/10/1898 hạn chế một số
quyền tự do báo chí và quy định nhiều hình phạt khác nhau, kể cả đối với báo bằng
tiếng Pháp, công dân Pháp và dân địa phương, phạm các tội kích động dân địa
phương nổi loạn, đăng tải, tuyên truyền tranh ảnh thiếu tôn trọng chính quyền
Pháp tại Đông Dương...
Kể cả báo chí quốc ngữ Nam Kỳ,
thuộc địa của Pháp, cũng trở thành đối tượng nhắm đến của sắc luật này, như trường
hợp được nhà sử học Pháp Pierre Brocheux nhắc lại là vụ bắt giữ Gilbert Chiếu
(Trần Chánh Chiếu), chủ bút tờ Lục tỉnh tân văn của một người Pháp, vào tháng
10/1908 vì ông có quan hệ với phong trào Đông Du và viết báo chống chính quyền
thuộc địa. Nhà sử học Pierre Brocheux đánh giá :
« Báo chí quốc ngữ phát triển từ
báo thông tin thành báo chí chính luận và cũng nhanh chóng biến thành báo chí
tuyên truyền, thậm chí còn đăng những lời yêu sách. Nhiều bài viết còn kêu gọi
độc giả biểu tình, làm việc này hay việc kia, ký kiến nghị… Dĩ nhiên, hiện tượng
này cũng nhanh chóng lan ra miền Bắc. Điều đáng nói là miền Bắc không phải là
Nam Kỳ, có nghĩa là không phải là một thuộc địa, nên hệ thống kiểm duyệt, cảnh
sát theo dõi rất chặt chẽ và trấn áp cũng rất nhanh, vì vậy, báo chí không phát
triển rộng được như ở Nam Kỳ ».
Vẫn theo nhà sử học Brocheux, ở
Nam Kỳ, nhiều người còn đặt mua được báo L’Humanité của đảng Cộng Sản Pháp và
nhận được qua đường bưu điện.
« Người ta có thể thấy trong những
tờ báo chính luận đầu tiên bằng chữ quốc ngữ một số bài viết dịch lại từ tờ
L’Humanité. Đây là trường hợp của tờ Tiếng chuông rè (La Cloche fêlée) của Nguyễn
An Ninh. Sau đó còn có bản dịch của luật sư Phan Văn Trường về « Tuyên ngôn đảng
Cộng Sản » và nhiều bài báo trên tờ L’Humanité. Chính vì thế, luật sư Phan Văn
Trường bị bắt giam, dù ông có quốc tịch Pháp. Ông còn dịch « Lời kêu gọi Binh
sĩ » (Appel aux soldats) đừng ra chiến trường, đừng sang các nước thuộc địa hoặc
đào ngũ… ».
Điều này đã được làm và có thể
làm ở Nam Kỳ, song kéo dài không lâu, vì chính quyền luôn tìm chứng cứ để đình
bản hoặc tiến hành các vụ bắt giam. Ngay khoảng năm 1925, toàn quyền Đông Dương
Alexandre Varenne, thuộc đảng Xã Hội, đã ban hành nhiều biện pháp chống lại báo
chí Đông Dương. Sắc lệnh ngày 04/10/1927, còn được gọi là sắc lệnh Varenne, quy
định lại chế độ báo chí ở các vùng bảo hộ của Pháp, áp đặt chế độ kiểm duyệt,
đã bị bãi bỏ ở Pháp, đối với báo chí quốc ngữ.
Báo chí phát triển - Kiểm duyệt
khắt khe
Tuy nhiên, cũng từ năm 1927, báo
chí Bắc Kỳ phát triển vượt bậc nhờ một tầng lớp trí thức trẻ người Việt, công
nghệ in báo được cải tiến… Từ 9 đầu báo vào năm 1927 tăng thành 27 vào đầu năm
1933. Nhà sử học Brocheux cho biết thêm :
« Tại Bắc Kỳ và Nam Kỳ, báo chí
được tự do phát triển hơn một chút dưới thời Mặt Trận Bình Dân tại Pháp (Front
Populaire) vào năm 1936. Đây là thời kỳ nở rộ, người ta thấy xuất hiện rất nhiều
« báo lá cải » theo cách gọi « feuille de chou » trong tiếng Pháp, có nghĩa là
báo chỉ có một tờ in hai mặt, vì giai đoạn này có chút tự do hơn, luật pháp
không bị áp dụng chặt chẽ đối với báo chí. Nhờ đó, rất nhiều báo cộng sản, hoặc
những tờ ngả theo cánh tả, thậm chí là cực tả, xuất hiện trong giai đoạn
1936-1937, ví dụ như tờ La Lutte (Tranh đấu) ».
Chút tự do báo chí tại Đông Dương
nhanh chóng bị hạn chế với một sắc lệnh mới 30/06/1935 và thực sự bị trấn áp từ
năm 1939 khi Thế Chiến II sắp bùng nổ, đồng thời Mặt Trận Bình Dân Pháp bị tan
rã. Tại Pháp, đảng Cộng Sản bị giải tán theo sắc lệnh ngày 26/09/1939. Nhà sử học
Brocheux giải thích :
« Sắc lệnh này đặt đảng Cộng Sản
Pháp ngoài vòng luật pháp, cũng như mọi đảng Cộng Sản hay chi nhánh của đảng
này ở các xứ thuộc địa Pháp. Các báo cộng sản cũng bị cấm, như L’Humanité ở
Pháp. Ở Việt Nam, chính quyền lục soát trụ sở tất cả các báo cộng sản, bắt giữ
người theo Cộng Sản và đưa họ vào trại giám sát ».
Một lần nữa, người Việt bị tước
quyền tự do báo chí. Tuy nhiên, họ tìm cách lách luật bằng cách mượn tên của một
người có quốc tịch Pháp để mở một tờ báo sau đó nhượng lại cho một người Việt
khai thác, dễ như « thuê nhà mặt phố ». Tuy nhiên, các tờ báo quốc ngữ phải chịu
kiểm duyệt trước. Bộ phận báo chí của chính quyền thuộc địa có quyền cắt hoặc
xóa một khổ, một câu, thậm chí bỏ cả bài nếu nội dung đi ngược với lợi ích hoặc
đe dọa chính quyền thuộc địa. Chính vì thế, từ năm 1940, độc giả không hề ngạc
nhiên khi thấy nhiều chỗ bị bỏ trắng trong các nhật báo hoặc tạp chí (Tri Tân,
Phong Hóa…) với hàng chữ « Kiểm duyệt bỏ ». Trong vòng ba năm, từ 1940-1943, 17
tờ báo bị rút giấy phép phát hành.
Nhà trí thức Phạm Quỳnh, chủ bút
tạp chí Nam Phong, từng biện minh cho chính sách kiểm duyệt của chính quyền
Pháp tại Đông Dương, là « phòng ngừa tốt hơn là trấn áp. Chính xác hơn là nên
ngăn chặn các bài viết có nguy cơ đẩy nhà văn đến các hậu quả đáng tiếc trước
khi chúng được in. Chế độ báo chí, ngược lại, rất tự do đối với những gì được
cho là thể hiện quan điểm và chỉ cấm những gì phạm pháp. Có nghĩa là, giấy cấp
phép ra báo không phải là một trở ngại mà là sự bảo vệ cho những người liên
quan » (2).
***
(1) CAOM, Gouvernement général de
l’Indochine, dossier 9220.
(2) Phạm Quỳnh, « La presse
annamite » (Báo chí An Nam), Nam Phong, n°107, tháng 07/1926.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét