
Trang bìa số đặc biệt tuần báo
Courrier international "Nga. Những người kế tục sự nghiệp cách mạng"
(số ra tháng 9-10-11/ 2017)-Affiche d'Anton Batishev, Russie
Báo Le Monde Diplomatique số ra
tháng 10/2017, trong loạt hồ sơ 1917 nhân 100 năm Cách Mạng Tháng 10 Nga, nhận
định trong suốt thập niên đầu tiên sau cuộc Cách Mạng, chính quyền Xô Viết non
trẻ không ngừng điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình, hòng tìm kiếm một sự
cân bằng giữa sứ mệnh truyền bá cuộc cách mạng ra bên ngoài và nhu cầu bảo đảm
sự tồn tại của chế độ.
Lúc ban đầu, những người
Bôn-sê-vic đã tránh việc xây dựng các nguyên tắc chính sách đối ngoại. Trong mắt
họ, chừng nào tại các nước phương Tây công nghiệp hóa chưa có một cuộc cách mạng
hóa giải được mối đe dọa can thiệp đế quốc, chừng ấy nước Nga vẫn sẽ lâm nguy.
Hơn nữa, xét cho cùng, sự đăng quang của chủ nghĩa xã hội ở Nga, một quốc gia lạc
hậu về mặt kinh tế, vẫn cần đến sự hỗ trợ kỹ thuật và kinh tế của những nước
đó.
Chính vì những lý do này, mà Leon
Trotski có thái độ xem thường vị trí ủy viên nhân dân phụ trách đối ngoại mà
người ta giao phó cho ông ngay sau khi chiếm được Cung điện mùa đông vào tháng
10 năm 1917. Người chủ trương « cách mạng thường trực » thấy chẳng có lợi gì
trong việc thiết lập bang giao với các chính quyền theo chủ nghĩa tư bản mà ông
tin rằng sắp đến hồi cáo chung.
Thậm chí Leon Trotski còn thông
báo với nội các của mình ý định cho công bố các hiệp ước bí mật mà chế độ cũ
thông qua với các chính phủ đế quốc khác, trước khi cho « đóng cửa tiệm » và
bãi nhiệm họ. Chỉ 10 năm sau, việc Joseph Stalin từng bước củng cố vững chắc trở
thành lãnh đạo Đảng Cộng sản không thể chối cãi đã trấn an được bộ Ngoại Giao
Anh.
Bởi vì, theo nhận định của một
trong số các đại diện ngoại giao Anh, « Chẳng có gì đáng ngạc nhiên về sự thất
bại của phe đối lập cuồng tín Bôn-sê-vic, bởi vì phe này đưa ra một chính sách
đối ngoại chỉ sử dụng các 'công cụ quốc gia' kinh điển. »
Chính sách ngoại giao nước đôi
Sự khác biệt giữa hai cách tiếp cận
này phản ánh sự biến đổi mà chính sách đối ngoại của Liên Xô đã trải qua trong
suốt thập kỷ đầu tiên sau năm 1917. Một thời gian dài, đấu tranh giai cấp vẫn
còn là một yếu tố cơ bản, ngay cả sau khi các cuộc cách mạng ở Trung và Đông Âu
nếm mùi thất bại. Việc "bình thường hoá" quan hệ với các nước khác hiếm
khi được xem như là một mục đích cuối cùng, mà đúng ra như là một sự thoái lui
về chiến thuật.
Lenin đã nói một cách rõ ràng ý
tưởng này vào tháng 11 năm 1920: « Cho đến lúc này, chúng ta vẫn chưa giành thắng
lợi ở bên ngoài biên giới của chúng tôi, đó có lẽ là cách duy nhất để chúng ta
bảo đảm an ninh của mình. Tuy nhiên, chúng ta đã bước vào một kỷ nguyên mới, bởi
vì kể từ giờ chúng ta đã được công nhận như là một tác nhân quan trọng trên trường
quốc tế. »
Quả thật chính phủ mới đã có những
thành công đầu tiên khi cho thực thi chính sách này : Nghị định về hòa bình
(không sáp nhập cũng không bồi thường) được đưa ra ngay ngày hôm sau cuộc Cách
mạng Tháng Mười cho phép củng cố quyền lực trong con mắt của người dân; Hiệp ước
Brest-Litovsk kết thúc chiến tranh với Đức vào tháng 3 năm 1918; Hiệp ước
Rapallo phá vỡ cô lập ngoại giao Liên Xô vào năm 1922.
Thế nhưng, thực ra, sự nhìn nhận
của quốc tế và sự ổn định chính trị, dù là tạm thời, vẫn cho thấy một sự mâu
thuẫn về một chế độ mang tư tưởng quốc tế cộng sản và luôn trong quá trình vận
động. Trong một nỗ lực tuyệt vọng nhằm giữ đúng các nguyên tắc của mình, những
người Bôn-sê-vic đã buộc phải áp dụng một chính sách kép.
Đó là vừa thúc đẩy quan hệ ngoại
giao với phương Tây để bảo đảm an ninh quốc gia, vừa khuyến khích các hoạt động
cách mạng ở nước ngoài khi có hoàn cảnh thuận lợi mà bằng chứng minh họa là sự ủng
hộ của họ cho cuộc nổi dậy bất thành tại Hamburg vào tháng 10 năm 1923.
Sự mâu thuẫn này càng sâu sắc hơn
trong suốt năm 1924, khi Vương quốc Anh, Pháp và Ý công nhận Liên Bang Xô Viết,
trước sự bất ngờ của chính quyền Bôn-sê-vic. Cùng lúc, tổ chức Comintern - Quốc
Tế Cộng sản hay còn gọi là Đệ Tam Quốc Tế - thừa nhận là cuộc cách mạng thế giới
sẽ không xảy ra sớm như mong đợi.
Trong hoàn cảnh này, làm thế nào
Liên Xô có thể gìn giữ được vị thế người canh gác cách mạng thế giới mà không
phải hy sinh lợi ích quốc gia? Dần dần, Đệ Tam Quốc Tế được đưa vào phục vụ cho
nền ngoại giao « quốc gia » của Liên Xô, trong khi bản sắc Quốc Tế Cộng Sản chỉ
là vẻ bề ngoài. Được thông qua tại Đại hội Đảng lần thứ XI năm 1922, chiến thuật
mặt trận thống nhất đã vạch ra hướng đi đồng thuận đặt nền tảng cho sự hòa giải
với các tổ chức công nhân phi Cộng sản.
Mối quan hệ nhập nhằng với các
công đoàn Anh
Mối quan hệ với Vương quốc Anh
trong thời kỳ 1924-1927 đã làm sáng tỏ những mâu thuẫn của chính sách hai mặt
này. Tháng 02/1924, chính phủ Công đảng đầu tiên của thủ tướng Ramsay McDonald
công nhận một cách miễn cưỡng Liên Bang Xô Viết. Sau một chiến dịch đồng hóa
Công Đảng với hiểm họa Cộng sản, phe Bảo thủ Anh đã chiếm lại được quyền lãnh đạo
đất nước vào tháng 11/1924.
Để phòng thủ, Liên Bang Xô Viết nỗ
lực tìm kiếm các lợi thế ngoại giao từ những mối quan hệ hữu nghị với các tổ chức
công nhân ở Anh. Sự xích lại gần này, đặc biệt với Liên đoàn Công đoàn Anh
(TUC), đã dẫn tới việc thành lập vào năm 1925 của một ủy ban hỗn hợp gồm Liên
đoàn Công đoàn Liên Xô và Anh.
Người ta có thể cảm thấy lạ khi
thấy Liên Xô nghĩ rằng các công đoàn sẽ thành công trong việc buộc chính phủ Bảo
thủ có một thái độ khoan dung đối với họ. Suy nghĩ này có thể đúng khi kinh
nghiệm của năm 1918-1920 mang đến cho họ một số lý do để hy vọng. Vào thời điểm
đó, phe tả ở Anh chỉ trích sự can thiệp quân sự trong cuộc nội chiến.
Dưới khẩu hiệu "Hands Off
Russia" (Hãy để người Nga yên !), cánh tả Anh phản đối việc đưa quân đội
và đạn dược lên mặt trận Nga. Dưới áp lực từ cơ sở, Công Đảng và Liên Đoàn Công
Đoàn Anh yêu cầu chính phủ « có những biện pháp cần thiết trong thời hạn ngắn
nhất rút về lực lượng Anh bị gửi đến Nga ». Đây là nỗ lực đầu tiên và cuối cùng
của cánh tả Anh để buộc chính phủ phải thay đổi chính sách đối ngoại bằng các
biện pháp ngoài nghị viện.
Các nỗ lực để đạt được một thỏa
thuận với Luân Đôn về mặt ngoại giao đi đôi với sự thiếu quan tâm đến các hoạt
động của Uỷ ban hỗn hợp. Tuy nhiên, khi một cuộc xung đột xã hội nổ ra trong
ngành khai thác mỏ của Anh vào đầu năm 1926, Kremlin đã quyết định không bỏ cơ
quan này, mà phe đối lập theo Trotski tố cáo là cơ hội. Quyết định này được thực
thi một phần do mong muốn của lãnh đạo Đảng không muốn nhượng bộ bất cứ điều gì
cho phe cánh tả trong đảng.
Một lý do khác, không kém phần
quan trọng, đó là tiềm năng ngoại giao của cơ quan này ngày càng trở nên có giá
trị hơn vào lúc Liên Bang Xô Viết có nguy cơ bị cô lập trên trường quốc tế.
Trong khi đó, phe bảo thủ Anh cứng rắn đang thúc ép chính phủ cắt đứt quan hệ với
Liên Xô. Năm 1925, hiệp ước Locarno, do Vương quốc Anh đề xướng để hòa giải với
Đức, hủy bỏ hiệu lực của Hiệp ước Rapallo và đe dọa cô lập Matxcơva. Việc mở đường
cho Đức gia nhập Hội Quốc Liên bị Matxcơva xem như là một hành động phóng lao
chống lại Liên Xô.
Chuỗi thất bại và ánh hào quang
Chiến thuật hai mặt này hàm chứa
một số rủi ro nhất định, như cho thấy cuộc tổng đình công do Liên Đoàn Công
Đoàn Anh phát động vào tháng 5/1926 nhằm bày tỏ tình liên đới với phong trào
đình công mùa đông của những người thợ mỏ.
Bị mắc kẹt, nhưng vì bị gắn liền
với vai trò lãnh đạo cách mạng thế giới, Kremlin chỉ có thể ủng hộ cuộc đình
công ngay từ những ngày đầu. Sau thất bại của phong trào này, Kremlin đổ mọi
trách nhiệm lên TUC, cáo buộc họ đã phản bội những người lao động và đã khước từ
« vàng đỏ », nguồn trợ giúp kinh tế của Liên Xô. Chỉ cần đề cập đến nguồn viện
trợ này, cho dù là biểu tượng hay thực, cũng đủ làm dấy lên một lời kêu gọi trục
xuất người Nga khỏi lãnh thổ Anh.
Sự việc này dẫn đến việc Liên Xô
lần đầu tiên phải xem xét lại chính sách ngoại giao này. Vào mùa thu năm 1926,
Ivan Maïski và nhất là Leonid Krassine, một nhà ngoại giao nổi tiếng bảo thủ và
truyền thống, được gửi đến Luân Đôn trong một nỗ lực cuối cùng là tránh cuộc khủng
hoảng.
Đồng thời, các hoạt động của Quốc
Tế Cộng Sản cũng giảm đi đáng kể. Những biện pháp khẩn cấp này đến quá muộn và
không đủ để ngăn chặn một loạt thất bại ngoại giao vào năm 1927. Và Đức tiếp tục
rẽ về phía Tây.
Vào tháng 4 cùng năm, cảnh sát
Trung Quốc, theo yêu cầu của Luân Đôn, đã đột nhập vào trụ sở của phái đoàn
Liên Xô ở Bắc Kinh; Tưởng Giới Thạch cho tàn sát các cựu đồng minh cộng sản của
mình. Tháng 5, chính phủ Anh cho lục soát các văn phòng của phái đoàn thương mại
Xô Viết ở Luân Đôn và với lý do đã tìm thấy các tài liệu cho thấy có sự can thiệp
nội bộ của Liên Xô, Luân Đôn đã đoạn giao với Matxcơva. Tháng 9, các cuộc thương
thảo kinh tế với Pháp rơi vào ngõ cụt, và Christian Rakovski, đại sứ Liên Xô ở
Paris, đã trở thành nhân vật không được hoan nghênh.
Những thảm họa ngoại giao năm đó
đã nhấn chìm Matxcơva trong « nỗi sợ chiến tranh » và trong trạng thái bi quan
sâu sắc, buộc họ ý thức về thất bại của chính sách đối ngoại. Trợ lý Maxim
Litvinov đã lên thay thế ngoại trưởng Gueorgui Tchitcherin. Ông Maxime Litvinov
luôn chủ trương cách tiếp cận theo quy ước hơn và ủng hộ sự hội nhập của Liên
Xô vào hệ thống châu Âu.
Sau khi được bổ nhiệm, sự đối đầu
không lay chuyển với các nước tư bản dần nhường chỗ cho một đường lối ủng hộ
cùng tồn tại hòa bình dựa trên cơ sở đôi bên cùng có lợi. Được nhắc đi nhắc lại
trong suốt thời Liên Xô, « thời kỳ hòa hoãn » đã làm lụi dần khát vọng cách mạng
tưởng chừng không thể nào lay chuyển. Nền ngoại giao của Liên Xô dần dà rồi
cũng gần giống với các đồng nghiệp phương Tây đến mức gần như lấy lại được một
phần hào quang mà Nga đã từng có trong những chế độ trước đó.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét