Tư
Thẳng blog: Đây là bài đọc để tìm hiểu quan điểm của những cựu đảng
viên cộng sản muốn trở về với "Đảng Lao Động của HCM". Thực tế cho thấy
đảng Lao Động lấy tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam cũng tệ hại
không khác đảng CSVN. Nó sẽ không giải quyết được vấn đề dân chủ hóa
Việt Nam do bản chất độc tài của thể chế cộng sản.
***
Đó là câu hỏi tôi đặt ra với anh Nguyễn Trung trong cuộc nói chuyện
điện thoại kéo dài 45 phút anh ấy gọi cho tôi hôm 2.10.2017. Xin ghi lại
nội dung thay cho một bài “Mênh mông thế sự để gió cuốn đi” số 16.
*Chuyện dài lắm, anh bay ra đây đi. Lâu rồi anh chưa ra Hà Nội. Phải trao đổi dài dài mới rõ ra được
** Thế thì anh bay vào đây đi. Từ hôm gặp nhau nhân
kỷ niệm ngày sinh anh Sáu Dân ở nhà tôi năm ngoái thì chỉ thiếu một
tháng là đầy một năm rồi đấy. So với hôm tôi ngồi ở nhà anh với Nguyễn
Quang Dy tại Hà Nội thì chỉ 8 tháng, còn ngắn hơn đấy. Vào ngồi trước ấm
trà mới nói được kỹ.
*Đúng vậy, nhưng chắc là hơi khó.
**Thế thì đành qua Iphone vậy. Anh cũng như tôi đều đã đặt
thẳng ra với ông Nguyễn Phú Trọng trong các bài viết dài, ngắn, riêng
tôi thì có Thư Ngỏ gửi trực tiếp và có lần trao đổi thẳng với ông Tổng
Bí Thư tại Hội trường của Đại hôi Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam tại Hà Nôi
rất chi là thẳng thắn và thoải mái cơ mà. Mà chỉ là những lời tâm huyết
vì nước vì dân chứ đâu phải chuyện đôi co cá nhân.
*Vậy thì anh nói đi, tôi gọi là để muốn nghe anh nói về những
điều tôi vừa viết và nhân thể cám ơn anh là anh đã kịp đưa lên “Điểm tin
đáng đọc” trong “Mênh mông thế sự để gió cuốn đi số 15” đưa lên mạng
ngày 1.10.2017.
**Những vấn đề anh đưa ra lần này cũng là tiếp tục những vấn đề đã nhất quán trong nội dung đã từng đưa kể từ bài “Thời cơ vàng” mà tôi đã đề nghị nên nối thêm với ba từ nữa liền kề “hiểm họa đen” ở giữa có từ “và”.
Cũng xin nói thêm là dạo ấy anh Việt Phương, người mà anh nhắc đến
nhiều lần trong bài này, cũng đồng ý với tôi là nên như vậy khi tôi đến
hỏi thêm ý kiến a. Việt Phương về bài của anh. Càng ngày càng thấy những
lời tâm huyết máu trào lên đầu ngọn bút của anh chỉ nhận được sự im
lặng của những kẻ cầm quyền ngoan cố. Thậm chí, mà theo tôi trên một
khía cạnh nào đó còn tệ hại hơn, có người vốn hiểu anh, hiểu chúng ta
quá rõ và nay vẫn thỉnh thoảng dựa vào cái chức danh quá khứ lên giọng
dạy đời mà tôi chẳng muốn nhắc tên của anh ta ra đây làm gì, đã rót vào
tai những người đang nắm quyền lực là phải cảnh giác với những tư tưởng
trong “thời cơ vàng” của Nguyễn Trung.Và rồi những “hiểm họa đen”
vẫn cứ dìm đất nước chìm sâu vào bế tắc toàn diện. Nhưng phải chăng
cũng vì thế mà bài này quyết liệt hơn, sức công phá mạnh mẽ hơn. Trong
cảm nhận của tôi thì ý nổi bật trong lần trình bày này là vạch trần bản
chất của mối quan hệ với Đảng Cộng sản Trung Quốc:
“Một trong những cái lầm chết người từ Thành Đô đến nay
là ta bị “16 chữ và 4 tốt” mê hoặc, cứ tưởng ta giống Trung Quốc, nên có
thể đi với nhau, dựa vào nhau, học nhau, cùng đi lên chủ nghĩa xã hội
.., mà quên mất ta không hề, không bao giờ, và không thể giống Trung
Quốc về bất kỳ phương diện nào, nhất là quên khuấy đi mất trước sau ta
chỉ là cái đích của Trụng Quốc!
Xin nhắc lại: ĐCSVN không bao giờ giống ĐCSTQ, nên không thể và không được làm theo TQ! Đừng bao giờ quên điều chết người này”!
Đoạn sau đây tuy ngắn nhưng hàm lượng thông tin cao, tính công phạt lớn:
– Trung Quốc của một đế chế hồi sinh luôn luôn cần một
đảng độc tài toàn trị cực mạnh để giữ cho Trung Quốc khỏi tan rã thành
những nước nhỏ, và để tạo lực chiếm ngôi bá chủ trên thế giới. Mao Trạch
Đông đã nhiều lần khẳng định công khai: ĐCSTQ là vô thiên vô pháp, trời
cũng không so được! Cứ nhìn những gì đẫm máu đã xảy ra ở TQ và những
hành vi của TQ trên thế giới từ thời Mao cho đến hôm nay, sẽ thấy quan
điểm “vô thiên, vô pháp, mục tiêu biện minh cho biện pháp” của Mao là
xuyên xuốt toàn bộ hệ thống chính trị Trung Quốc về đối nội cũng như đối
ngoại.
– Nhưng Việt Nam là một láng giềng sát nách lại cần một
đảng cầm quyền xây dựng cho quốc gia mình một thể chế chính trị dân chủ
lành mạnh, để phát huy hết mức sức mạnh dân tộc và tranh thủ dược cả thế
giới hậu thuẫn, qua đó mới có thể tồn tại và trở thành một láng giềng
được tôn trong của Trung Quốc! Việt Nam không làm được như thế thì chắc
chắn sẽ chỉ là cái đích TQ đã bỏ túi.
Hiển nhiên như ban ngày: Xem vậy nhiệm vụ chính trị đối
với quốc gia của 2 đảng Trung Quốc và Việt Nam đối nghịch nhau như giữa
đen và trắng vậy. Đừng giây phút nào mơ hồ điều này! Đừng để cho lăng
kính ý thức hệ nhìn lệch sự thật này”.
Đại họa của dân tộc khởi nguồn từ sự nhầm lẫn này, nhất là từ thời
Nguyễn Văn Linh bị Trung Quốc mua chuộc và nắm gáy do cái nhìn thiển cận
và đố kỵ đã chui đầu vào cái thòng lọng Thành Đô, và đến thời Nông Đức
Mạnh, Nguyễn Phú Trọng thì trên thực tế đã từng bước thực thi kế sách
thâm hiểm của Bắc Kinh, lệ thuộc vào Bắc Kinh, từng bước biến Việt Nam
thành chư hầu của Trung Quốc. Không gỡ được cái nút này thì mọi chuyện
anh nêu đều trở thành ảo mộng! Đấy là cái ý thô thiển của tôi xin nói
thẳng, chẳng vòng vo gì nữa. Chắc anh Việt Phương cũng đã nhiều lần nói
với anh chuyện này khi trao đổi về công việc mà chúng ta cần tiếp tục
theo ý nguyện của anh Sáu Dân.
Tôi rất đồng ý với nhận định của anh: “Bộ chính trị hồi
đó luôn luôn nhắc nhở phải độc lập tự chủ trong tư duy và cảnh giác với
mọi thâm nhập từ bên ngoài và giáo điều, quyết không để cho bên ngoài –
dù là ai – can thiệp vào đường lối cách mạng của mình.
Nghị quyết 15 về đẩy mạnh kháng chiến cứu nước của ta và
Nghị quyết 9 về đối ngoại là những vị dụ tiêu biểu về kiên định độc lập
tự chủ trong tư duy chiến lược và trong hành động, quyết gạt bỏ mọi ảnh
hưởng, tác động, áp lực từ bên ngoài, để thực hiện đến cùng mục tiêu
chiến lược giành lại độc lập thống nhất đất nước”.
Trong bối cảnh của sự bế tắc về đường lối do sự rối loạn về nhận thức
lý luận hiện nay, càng cần phải nhắc lại những điều trên để khẳng định
bản lĩnh độc lập tự chủ trong tư duy chiến lược và trong hành động cụ
thể có ý nghĩa rất lớn trong cuộc đấu tranh hiện nay.
Cùng với vấn đề trên, tôi cũng chia sẻ với anh về vấn đề hình thành
một Đảng của dân tộc, trở lại với tên Đảng Lao Động Việt Nam như anh đã
viết: “nhiệm vụ cơ bản hàng đầu của một đảng lãnh đạo trong
thời kỳ phát triển mới của đất nước, khác hẳn với thời kỳ làm nhiệm vụ
cách mạng giành độc lập và kháng chiến cứu nước! Đặc điểm mới này quyết
định bản chất hoàn toàn mới của đảng, đồng thời đòi hỏi phải có đường lối và tổ chức mới của đảng mà cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã đề cập tới (thư 09-08-1995).
Xin nói thêm, cũng gần đấy thôi, có người đưa ra một ý rất nghiêm túc là: “Giải
pháp tốt nhất để hạn chế bớt tính độc tài, toàn trị phản dân chủ đang
dìm Đảng Cộng sản Việt Nam, và Đât nước trong vũng lầy của trì trệ và bế
tắc là hình thành trở lại một Đảng Lao Động Việt Nam với những đặc điểm
mới phù hợp với sự phát triển hiện nay để có tiếng nói phản biện với
Đảng đang cầm quyền”.
Thực ra hồi ấy, khi cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt mạnh dạn và thẳng thắn kiến nghị với Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương một “đường lối mới và tổ chức mới của đảng” đã
bị các thế lực giáo điều, bảo thủ thẳng thừng gạt bỏ thì tiếp theo đó,
như anh cũng đã biết, với bản lĩnh kiên cường của một người hiểu rõ sứ
mệnh cao cả của mình, Võ Văn Kiệt vẫn quyết liệt tìm mọi cách thuyết
phục, vận động những người có trách nhiệm mà ông có thể tác động đến cho
đến khi ông vĩnh viễn ra đi. Trong những vấn đề ông đặt ra, cũng đã có
lần ông gợi ra ý tưởng vừa nói ở trên cùng với viêc thúc đẩy hình thành
những tổ chức nghiên cứu phản biện độc lập như cho ra đời Viện IDS…Đáng
tiếc là những ý tưởng gợi ra ấy chưa định hình thành một giải pháp, một
quyết sách cụ thể thì ông đã nằm xuống. Những việc mà chúng ta đang cố
gắng đẩy tới hiện nay chính là góp phần thúc đẩy công việc còn dang dở
của Ông, người mà chúng ta kính yêu.
*Thôi, không nhắc lại chuyện cũ thêm đau lòng. Trong sự quan tâm
của Anh Sáu Dân về việc hình thành những tổ chức nghiên cứu độc lập,
những “Think tank”, tôi rất day dứt muốn ai đó làm sáng tỏ một vấn đề
hết sức hệ trọng mà trong rất nhiều buổi làm việc anh Sáu Dân đã đặt ra
và bây giờ tôi gợi lại với anh. Về mặt xã hội học, tôi băn khoăn
tại sao xã hội nước mình chậm phát triển như thế này, nhất là về mặt
dân trí và… về cái điều chúng ta vẫn tự hào, nhưng nay cũng nên xem lại:
truyền thống dân tộc. Chẳng lẽ dân tộc ta chỉ
anh hùng trong chống ngoại xâm thôi sao, và vô cùng khó tự khẳng định
mình trong thời bình? Trăm sự đổ tất cả cho chế độ chính trị, cho chuyện
“ý thức hệ” nghe chừng cũng không ổn lắm. Chờ mong lời giải của anh.
** Đây là câu chuyện lớn và thú vị. Trao
đổi chuyện này cần phải có thời gian anh ạ. Sẵn đây, tôi chỉ xin chia sẻ
vói anh một điểm thôi: Tôi hay suy ngẫm về cái kết cấu hạ tầng tâm lý xã hôi [infrastructure socio-psychologique]
của một xã hội nông nghiệp lạc hậu kéo dài hàng bao thế kỷ chẳng mấy
thay đổi. Con người ngụp lặn trong vũng lầy lưu cữu bao đời ấy rất khó
để tiếp nhận được cái ý tưởng “chuẩn mực chính là sự thay đổi“.
Năng suất lao động quá thấp, xã hội nặng nhọc nhích từng bước, con trâu
đi trước cái cày theo sau, ì ạch rút bàn chân lún trong bùn, năng suất
có vậy thì nhu cầu làm sao cao hơn được! Bao đời vẫn chỉ có mơ ước “cơm ba bát, áo ba manh, đói không xanh, rét không chết” với niềm an ủi “ai giàu ba họ, ai khó ba đời”.
Cái cày chìa vôi đời nhà Lý thế kỷ XI vẫn còn phổ biến tận cuối thế kỷ
XX, thậm chí có nơi trong thế kỷ XXI này vẫn còn hữu dụng! Đời sống của
tuyệt đại bộ phận gia đình nông dân khốn khó triền miên năm này sang năm
khác nên có chút cải thiện là đã dễ tự bằng lòng! Con người sống trong
cái khung cảnh xã hội [social framework] ấy không phải với tư cách công dân, mà chỉ là thân phận thần dân chịu ơn “mưa móc”, được ban tí chút “ân huệ” là đã dễ dàng “chịu ơn trên”.
Nhìn lại lịch sử trong một thời gian kéo quá dài rất hiếm những cải
tiến về công cụ lao động, kỹ thuật canh tác. Xã hội của nền sản xuất tự
cung tự cấp, trọng nông ức thương không sao chuyển nổi sang kinh tế hàng
hóa trong nhiều thế kỷ. Sau Cách mạng tháng 8, cuộc cách mạng xã hội
duy nhất theo đúng nghĩa, thì lại phải dồn hết gân sức trí não cho ba
cuộc kháng chiến. Khi non sông quy vào một mối thì lại bập vào cái mô
hình sai lầm của Liên Xô nhân danh cái gọi là “chủ nghĩa Mác-Lênin” đối
lập với kinh tế thị trường khiến cho nền kinh tế lụn bại, xã hội lâm vào
khủng hoảng. Cho nên, anh nói là “đổ hết cho chế độ chính trị, cho ý thức hệ nghe chừng cũng không ổn lắm”
thì theo tôi vừa đúng, vừa không đúng. Chính cái chế độ kế hoạch hóa
tập trung bao cấp là sự tiếp tục tệ hại thói xin cho, thủ tiêu tính năng
động xã hội thì làm sao phát triển kinh tế, xây dựng đất nuớc?
Con người bị giam cầm trong cái khung cảnh xã hội ấy đã bi tha hóa không còn được chính là mình nữa
cả người cai trị lẫn người bị cai trị, người cầm quyền lẫn người bị
tước đoạt quyền, ở đây là quyền công dân, quyền làm người. Thủ phạm là
ai thì cũng đã rõ, nhưng với một cái nhìn thật nghiêm minh và thật sự
khách quan thì thủ phạm cũng là nạn nhân của chính họ. Quyền lực tuyệt
đối thì sự tha hóa cũng tuyệt đối, quy luật ấy đã làm băng hoại những
giá trị từng được xây đắp nên. Tôi muốn mượn lời cảnh báo của M. Gorky
năm 1918 về văn hóa lâm nguy một năm sau sự kiện cách mạng tháng Mười Nga 1917 để nói lên điều này: “cuộc cách mạng đã mang chứng bệnh ngoài da vào bên trong nội tạng”!
Để nói rõ hơn điều này, xin dẫn ra đây sự phân tích sâu sắc của Gustave le Bon, tác giả của cuốn sách nổi tiếng “Tâm lý học đám đông”: “trong đám đông, tư tưởng, tình cảm, xúc động, niềm tin có khả năng lây nhiễm mãnh liệt như khả năng của vi trùng”! Nhà tâm lý học người Pháp chỉ rõ cái “khả năng lây nhiễm” ấy là đáng sợ ở chỗ: “chính bằng cơ chế lây nhiễm chứ không bao giờ là cơ chế suy luận mà những ý kiến và niềm tin của đám đông được truyền bá”.
Nhìn từ một bình diện khác, tư tưởng trở thành sức mạnh khi nó thâm nhập được vào quần chúng, nhưng “quần chúng không quần chúng như ta tưởng”,
những điều vừa dẫn ở trên cho thấy một đám đông bị đầu độc một cách có
bài bản và hệ thống sẽ là một trở lực khủng khiếp cho cái mới ra đời và
phát triển. Một bộ máy tuyên truyền được xem là công cụ mầu nhiệm để bảo
vệ chế độ được triển khai rộng khắp và mở hết công suất có khả năng duy
trì một thói quen, một tập quán trì trệ và lạc hậu đủ sức bóp chết
những nhân tố mới vừa manh nha chưa kịp định hình. Vì thế, nạn nhân khốn khổ bị trói chặt trong cái khung cảnh xã hội được định hình bởi cái mô hình tệ hại nói trên là quảng đại quần chúng nhân dân cũng không hoàn toàn vô can!
Ngẫm cho kỹ, những bức tường đang bao vây cuộc sống chúng ta, xét tới
cùng, cũng do chính bàn tay tự nguyện hay không tự nguyện của chúng ta
xây nên. Anh ở Đức lâu, am hiểu văn hóa Đức, chắc thấm thía câu của
Berger, nhà xã hội học Đức “chúng ta bị giam cầm bởi chính sự hợp tác của chúng ta”!
Đấy là nhà xã hội học nói về cái xã hội của ông ta, một xã hội công
nghiệp phát triển, đã từ rất lâu rồi bỏ lại đằng sau sự trì trệ của nền
sản xuất lạc hậu, huống hồ ở Việt Nam ta của một thời, xứ sở của “nền chuyên chế của tập quán đã đã hoàn tất triệt để…Ở đó, tập quán là tiếng nói quyết định cuối cùng” mà J. Mill phân tích trong tác phẩm lừng danh “Bàn về tự do”!
Sẽ không thể nói dài hơn nữa trong cuộc trao đổi ngắn này mặc dầu tôi
hiểu được rằng những điều tôi vừa sơ lược gợi ra ở trên gắn liền với
giải pháp anh đưa ra: “Học hỏi là động lực trí tuệ xuyên suốt quá trình này – vì thế tôi gọi đó là thể
chế chính trị đa nguyên của học hỏi, của giác ngộ, của phát triển, bởi
vì nó được xây dựng từng bước và thường xuyên nâng cao theo tiến trình
của giác ngộ và phát triển; nó khác hẳn với đa
nguyên của bầy đàn, vô minh và hỗn loạn. Nói đơn giản: Đó là lấy mở
rộng tự do dân chủ tạo ra giác ngộ của trí tuệ và đồng thuận xã hội làm
động lực cho việc tiến hành cải cách, để từng bước xây dựng nên một thể
chế chính trị mới”.
Xin tạm dừng ở đây để còn tiếp tục vào một dịp sắp tới.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét