Cựu binh, chính trị gia Chuck Hagel trong một buổi khai trương 'Vietnam War Exhibit' ở Arlington, Virginia năm 2016
Ánh lửa từ những bó
đuốc của đoàn người da trắng đi tuần hành tại Charlottesville tháng 8
vừa qua làm sáng rực bầu trời khuôn viên trường Đại Học Virginia (UVA)
gợi lại cho chúng tôi bao nhiêu kỷ niệm về vấn đề da màu và biểu tình
trong suốt bảy năm theo học tại nơi đây, 1958-1965.
Xung đột sắc tộc và màu da ở Mỹ đã có từ trước
Đại
học Virginia là trường của người da trắng vì không nhận sinh viên da
đen. Và sinh viên da trắng phải là phái nam. Muốn vào UVA, nữ sinh viên
phải theo học ở Mary Washington College tại Fredericksburg, cách
Charlottesville 66 dặm.
Vừa tới thành phố này chúng tôi đã thấy
phòng vệ sinh dành cho "White" và "Black." Thoạt đầu cũng lúng túng,
không biết mình nên chọn phòng nào?
Cái gì phải đến thì đã đến.
Năm năm sau, ngày 10/09/1962, một cuộc nổi loạn ở Oxford, Mississipi làm
hai người chết và một số bị thương.
Tổng thống JF Kennedy phải
điều động tới 16.000 vệ binh tới để dẹp loạn và bắt chấp nhận một sinh
viên da đen vào học tại Đại học Mississipi. Cả thành phố Oxford bị đặt
dưới quyền kiểm soát của quân đội. Làm sao mà ở nước Mỹ lại có thể có
cái cảnh này, chúng tôi tự hỏi?
Trong tất cả các cuộc biểu tình
phản chiến, kể cả biến cố vệ binh bắn vào sinh viên biểu tình tại Đại
học Kent State ngày 4/5/1970 vừa được nhắc lại trong bộ phim The Vietnam
War của Ken Burns và Lynn Novick, không bao giờ có cả một thành phố bị
đặt dưới quyền kiểm soát của quân đội như vậy.
Ngày 11/06/1963 mọi
người ngỡ ngàng khi thấy TV chiếu cảnh Thống đốc Alabama, ông George
Wallace đứng chặn ngay trước cửa Đại học Alabama (Tuscaloosa) không cho
hai sinh viên da đen vào lớp học. Tổng thống John F. Kennedy lại phải
đưa vệ binh tới, và cảnh sát tháp tùng hai sinh viên nhập học.
Khi
được bầu lên thống đốc ông Wallace đã tuyên bố: "Tách biệt bây giờ,
tách biệt ngày mai, tách biệt mãi mãi." (segregation now, segregation
tomorrow, segregation forever).
Tiếp
theo là cuộc biểu tình vĩ đại "March on Washington" ngày 28/08/1963 do
Mục sư Martin Luther King lãnh đạo. Thông điệp của ông về "Tôi có một
giấc mơ" (I have a dream) và phản ứng của đoàn người biểu tình ước tính
tới 250.000 người. Ngày hôm sau, một nhà lãnh đạo nhân quyền bị ám sát ở
Jackson, Mississipi.
Bộ đội miền Bắc ở Quảng Trị-Bản quyền hình ảnh
Sovfoto
Những biến cố liên tục này làm cho nước Mỹ bất an,
chia rẽ không kém gì những cuộc biểu tình phản chiến trong bộ phim The
Vietnam War.
Năm 1963 thì Ken Burns mới lên mười tuổi và Lynn
Novick mới lên một, không để ý tới biểu tình. Có thể vì vậy mà trong
phim này, đã hàm ý rằng chỉ vì chiến tranh Việt Nam nên mới có biểu tình
xé nát nước Mỹ. Phim không nói đến sự thật là vì sợ phải đi lính, một
số khá đông thanh niên đi biểu tình là để chống quân dịch như chúng tôi
sẽ đề cập dưới đây.
Phần II của phim The Vietnam War đề cập về
cùng một thời gian với cuốn Khi Đồng Minh Tháo Chạy (KĐMTC), đó là từ
Tết Mậu Thân cho tới khi Miền Nam sụp đổ. Trong cuốn sách này, chúng tôi
tập trung vào việc Hoa Kỳ đã bỏ rơi miền Nam như thế nào.
Còn
phim The Vietnam War, tuy có đề cập tới những sự kiện theo dòng lịch sử,
nhưng tập trung vào biểu tình, thương vong, và hoàn cảnh bi đát của
những người quân nhân Mỹ trên chiến trường. Họ đã không được hậu phương
ủng hộ, cho nên lẫn lộn về sứ mệnh của mình: "Tôi đang chiến đấu cho cái
gì đây?" (What do I fight for?)
Trong khuôn khổ giới hạn của bài này, chúng tôi chỉ đề cập vắn gọn tới một số sai lầm và thiếu sót của bộ phim.
Trung thực hay thiên lệch?
Phần
II của phim vẫn tiếp tục phán xét, còn nặng hơn Phần I. Phim đã lặp
lại những luận điệu của phe thiên tả rằng chính phủ Sài Gòn tham nhũng,
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu hành động độc tài như ông vua trong một nước
bé nhỏ, quân đội VNCH không hữu hiệu, nạn trốn quân dịch.
Nặng nề nhất là đã một cách gián tiếp làm cho khán giả hiểu lầm rằng chính phủ miền Nam chỉ là bù nhìn của Mỹ.
Về
tham nhũng, chúng tôi miễn bình luận vì trong những năm vừa qua, độc
giả đã nghe và xem quá nhiều về tham nhũng ở ngay Washington, hay thống
đốc Virginia vào tù.
Cựu binh Hoa Kỳ và cộng đồng người Việt tỵ nạn ngày nay - Hình ảnh
Win McNamee
TT Thiệu độc tài: Ken Burns và Lynn Novick không
biết rằng Sài Gòn có tới cả chục đảng phái, mấy chục tờ báo, luôn chỉ
trích, công kích chính phủ? Rồi ca nhạc phản chiến tràn lan, sinh viên
xuống đường biểu tình thoải mái.
Quân đội không hữu hiệu, trốn
quân dịch? Sau trên 40 năm với bao nhiêu nghiên cứu đặt lại vấn đề thành
công của quân đội VNCH mà phim vẫn lập lại luận điệu xưa cũ.
Trước
khi phê bình như vậy, thiết tưởng Ken Burns và Lynn Novick phải cho
nghiên cứu (vì ngân sách 30 triệu USD rất lớn) xem có dân tộc nào trên
thế giới này đã chịu chấp nhận cho gần một phần ba số thanh niên nam ở
tuổi lao động (1,2 triệu trên 3,9 triệu) đi quân dịch hay không?
Quả thật đã có nạn lính ma, lính kiểng nhưng chỉ là số rất nhỏ, đại đa số đã vui lòng nhập ngũ.
"Hành
động nói to hơn lời nói": Chính Đại sứ Graham Martin là người có mặt
tại Sài Gòn đến giờ phút cuối cùng đã phải cải chính trước Quốc Hội rằng
(sau khi Mỹ rút hết từ mùa Xuân 1973):
"Miền Nam chỉ mất một tỉnh đầu tiên là Phước Long vào tháng 1/1975 khi các ngài đã cắt hết viện trợ."
Lúc
ấy quân đội chỉ còn đủ đạn dược để chiến đấu 30-45 ngày. Cho nên nếu
ngày 30/4 không xảy ra thì muộn lắm cũng sẽ xảy ra hai tháng sau, vào
ngày 30/6/1975?
Chính phủ miền Nam là bù nhìn của Mỹ? Cáo buộc này
đã được nhiều người phản biện. Nơi đây, chúng tôi chỉ nhắc lại như thế
này: tuy dù vì hoàn cảnh thật nghèo sau mười năm chiến tranh của Pháp
(1945-1955), VNCH đã phải lệ thuộc vào viện trợ của Mỹ nhưng không phải
vì thế mà lãnh đạo của họ trở thành bù nhìn.
Như đã đề cập trong
cuốn Khi Đồng Minh Nhảy Vào, thời Đệ Nhất Cộng Hòa, TT Ngô Đình Diệm đã
yêu cầu Tổng thống Kennedy rút cố vấn đi, và cũng không muốn cho Mỹ đưa
quân đội tác chiến vào miền Nam.
Khi thấy Mỹ bỏ Lào, ông nhìn
thấy chân trời tím và biết rằng trước sau thì Mỹ cũng bỏ rơi miền Nam
nên muốn điều đình với miền Bắc để tìm một giải pháp hòa bình. Ông đã
chống lại Mỹ và sau cùng đã hy sinh tính mạng để giữ được chính nghĩa
quốc gia.
Thời Đệ Nhị Cộng Hòa, TT Thiệu đã nhất quyết chống lại
TT Nixon, không chấp nhận bản dự thảo Hiệp định Paris cho dù bị đe dọa
sẽ có đảo chính giống như 1963, rồi TT Nixon còn tàn nhẫn đến mức nói
"cắt cổ ông Thiệu nếu cần thiết." Nhưng TT Thiệu vẫn cưỡng lại. Sau cùng
TT Nixon phải bí mật cam kết để bảo đảm hòa bình và tiếp tục viện trợ
đầy đủ cho miền Nam để đổi lấy sự đồng ý của TT Thiệu. Nhưng cam kết thì
cũng chỉ là mánh khóe để bỏ rơi miền Nam (xem KĐMTC).
Không giải thích cho rõ tại sao thương vong lên cao?
Tử thương lên tới 58.200 người là vì hai lý do:
Thứ nhất:
Mỹ muốn trực chiến. Mặc dù cả hai tổng thống VNCH - Ngô Đình Diệm và
Nguyễn Văn Thiệu - đều đã yêu cầu là Mỹ chỉ cần yểm trợ phương tiện,
vật chất và huấn luyện quân đội miền Nam để họ tự bảo vệ, rồi chỉ yểm
trợ khi nào bị tấn công, nhưng Mỹ đã không nghe, cứ mang thật nhiều quân
vào rồi đưa họ ra chiến trường.
Ngay từ lúc Mỹ mới nhúng tay vào
miền Nam cũng đã có sự bất đồng ý về chiến thuật giữa cố vấn Mỹ và
tuớng lãnh miền Nam. Trong một buổi họp, viên tư lệnh Mỹ ở miền Nam đã
nói toạc ra là "ai chi tiền thì người đó chỉ huy" (who pays, commands).
Rồi tới khi chiến tranh leo thang, sứ mệnh của quân đội Hoa Kỳ được xác
định là chiến đấu, sứ mệnh quân đội miền Nam là gìn giữ an ninh ở hậu
phương.
Lễ đưa thi hài quân nhân Mỹ về nước năm 1965 tại sân bay Tân Sơn Nhất-Getty Images
Vì thế Tướng Westmoreland đã theo một chiến thuật
gọi là "tìm và diệt địch" (search and destroy). Người lính Mỹ đi tìm
địch phải lội vào bùn lầy, trực thăng thả họ xuống những nơi hẻo lánh,
núi đồi hiểm trở. Trận Đồi 937 (còn gọi là Hamburger Hill) ờ Thung lũng A
Shao có tới 56 tử thương và 480 bị thương.
Vì quân đội Mỹ đã chủ
động, nên quân đội miền Nam không được huấn luyện tối đa cho tới năm
1969 khi Mỹ bắt đầu rút. Lúc ấy mới có chương trình Việt Nam Hóa, giúp
tân trang và đẩy mạnh huấn luyện. Ta nên nhớ chỉ sau Tết Mậu Thân quân
đội VNCH mới được trang bị súng M-16, còn trước đó chỉ là loại cổ, súng
Garrant M-1 và súng Carbine từ thời Đệ nhị Thế chiến.
Thứ hai,
Mỹ áp dụng mô hình chiến tranh quy ước (conventional warfare) để đánh
chiến tranh du kích. Mô hình này dựa vào hai yếu tố chính yếu, đó là "di
động tính và hỏa lực" (mobility and fire power). Di động tính là dùng
nhiều trực thăng để chuyển quân, nhưng trực thăng bay thấp, dễ bị bắn
trúng. Hỏa lực: máy bay thả nhiều bom đạn và đại pháo gây nhiều thương
vong cho người dân Việt và có khi còn cho cả người lính Mỹ.
Không nói hết sự thực về lý do 'biểu tình phản chiến'
Trong
suốt thập niên 1960, chúng tôi - trước là sinh viên, sau là giáo sư -
đã sinh hoạt gần gũi với các sinh viên: phản chiến có, ủng hộ có. Đôi
khi còn đi lẫn vào đám đông để quan sát, nghe ngóng, cho nên đã thấy
ngay sự thiếu sót của bộ phim về 'biểu tình phản chiến.' Phim lại dành
nhiều thời giờ cho phong trào này.
Như đã đề cập trên đây, những
cuộc nổi loạn, xung khắc về da màu đã châm ngòi phong trào biểu tình
ngay từ năm 1962, ba năm trước khi quân đội Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng
(3/1965). Khi cuộc chiến bùng nổ, phong trào phản chiến nhập luôn với
phong trào nhân quyền, làm cho những cuộc biểu tình trở nên náo động và
xáo trộn hơn, như:
- Biểu tình tại Washington ngày 21/10/1967 (100.000 người);
- Xáo trộn tại đại hội Đảng Dân Chủ vào mùa hè 1968;
- Biểu tình (lớn nhất) tại Washington ngày 15/11/1969, với khẩu hiệu "Moratorium March", ước tính giữa 250.000 - 500.000 người (phim dùng con số 500.000 người).
Độc giả lưu ý là vào ngày 4/4/1970 cũng có cuộc biểu tình lớn
nữa, nhưng với khẩu hiệu là "Tuần hành cho chiến thắng" (March for
Victory): có tới 50.000 người tham dự.
Qua hình ảnh và dẫn giải, phim cho khán giả cái ý niệm là biểu tình sôi động như vậy chỉ vì chiến tranh Việt Nam.
Thực ra thì có nhiều phong trào xen kẽ với nhau. Nhiều khi những người đi biểu tình còn mang cả biểu ngữ khác nhau.
Ngoài nhân quyền của Mục sư Luther King, các cuộc tuần hành còn có nhiều mục tiêu khác, thí dụ như:
- Tranh đấu tăng công ăn, việc làm (kết quả là chương trình Equal Opportunity Employment);
- Yêu cầu phải cung cấp nhà cửa cho người có lợi tức thấp (kết quả là TT Johnson lập ra bộ Phát triển gia cư và thành thị - Housing and Urban Development);
- Chống bất bình đẳng nam nữ;
- Tranh đấu cho quyền của người đồng tính luyến ái (Gay Movement);
- Quan trọng nhất là "Phong trào Chống lại Quyền uy" (Anti-Establishment Movement), với những khẩu hiệu "phá nát nhóm chiếm ưu thế trong xã hội (tearing down the establishment), đứng lên đối mặt với nhóm quyền uy ("standing up to the establishment."
Liên kết với phong trào này là nhiều nhóm đi biểu
tình làm cho chính chúng tôi cũng lẫn lộn, như: Quân giải phóng
Symbionese, Đảng Black Panthers, Malcolm X, Malvina Reynolds, Ron Paul,
Noam Chomsky, Bernie Sanders, John Lennon, K-Rino, Anti-Flag, Terminator
X, Gil-Scott Heron.
Rất ồn ào là phong trào Hippy với khẩu hiểu "Làm tình, không giao chiến" (Make love not war).
Tuy
rằng đa số thanh niên Mỹ đã tự nguyện, nhưng còn thành phần - tuy nhỏ
nhưng rất ồn ào - sợ bị gọi nhập ngũ, nên tham gia biểu tình, thực ra là
để chống chế độ quân dịch, nhưng cứ hô lên lý do phản chiến là vì cuộc
chiến này 'vô nghĩa' (meaningless), 'phí phạm' (wasteful), chính phủ nói
dối...
Chứng cớ là khi Tổng thống Richard Nixon chấm dứt chế độ
quân dịch vào ngày 1/7/1973, thay thế bằng chế độ tự nguyện, thành lập
quân đội tình nguyện (All votunteer army) thì phong trào biểu tình hầu
như biến mất.
Cuộc chiến hiện nay tại Iraq - Afghanistan đã kéo
dài tới 16 năm và chưa thấy ánh sáng cuối đường hầm, tốn phí tới $2,4
ngàn tỷ (trillion). Theo ước tính của Đại học Harvard thì sẽ có thể tới
$4 ngàn tỷ tới $6 ngàn tỷ, tốn hơn chiến tranh Việt Nam rất nhiều
(khoảng $250 tỷ - tương đương $1,7 ngàn tỷ tính theo mãi lực 2017).
Số
quân nhân được điều động thay nhau tới chiến trường này ước tính cũng
đã tới 2,5 triệu người (xấp xỉ bằng chiến tranh Việt Nam) mà sao trong
16 năm qua, biểu tình chống chiến tranh chỉ xảy ra trong hai năm đầu
(2001-2002): thí dụ như ở Los Angeles (2.500); San Francisco: 10.000
người. Lớn nhất là tại Washington (tháng 2/2002) khoảng 75.000 người.
Từ
đó, tức là trong 12 năm qua, không thấy có biểu tình. Dĩ nhiên là cuộc
chiến này được biện luận với lý do chống khủng bố (war on terror) nhưng
Tổng thống George W. Bush nhảy vào Iraq và những cáo buộc rằng ông đã
nói dối về lý do của cuộc chiến thì vẫn còn là những vấn đề tranh luận
(như đánh giá của Bob Woodward trong State of Denial).
Không đề cập đến kịch bản tháo chạy
Henry Kissinger và Richard Nixon. TS Nguyễn Tiến
Hưng hỏi 'Vì sao bộ phim của Ken Burns và Lynn Novick không phỏng vấn
ông Henry Kissinger?'- Ảnh Bettmann
Phần II của bộ phim nói về giai đoạn từ đầu 1969 tới
tháng 4/1975: đó là thời gian mà Cố vấn (rồi kiêm Ngoại trưởng) Henry
Kissinger đóng vai trò chính yếu của Hoa Kỳ về 'The Vietnam War'. Thế mà
phim không phỏng vấn ông Kissinger cho kỹ để tìm hiểu về kịch bản phản
bội và tháo chạy.
Hầu như một mình, chỉ một mình ông Kissinger đã
làm việc trong bóng tối, thao túng nền ngoại giao Hoa Kỳ. Có lần ông
tâm sự với ký giả Oriana Fallaci:
"Điểm chính là lúc nào tôi cũng
hành động một mình. Người Mỹ thích cái đó vô cùng. Người Mỹ thích hình
ảnh một gã chăn bò dẫn đầu một toán di dân, một mình trên lưng ngựa,
thủng thẳng tiến vào một tỉnh lỵ, một thị xã; chỉ mình với ngựa thôi...
Có thể là không có cả súng nữa…" (KĐMTC, trang 66-67).
Ông
là một nhà ngoại giao thiên tài, nhưng đồng thời cũng là một con người
mưu mô, gian dối - chúng tôi gọi là 'Đao phủ Henry II', người có trách
nhiệm lớn trong việc bức tử VNCH ('Đao phủ Henry I' là ĐS Henry Cabot
Lodge, người đã xúi bẩy tướng lãnh đảo chính và sát hại TT Diệm). Như
vậy là miền Nam đã thật xui vì gặp phải hai tay Henry.
Năm 1968: Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và trẻ em trong một trại tỵ nạn vùng đồng bằng sông Cửu Long PhotoQuest
Phim không nói gì tới - mà rất có thể là Ken Burns
và Lynn Novick cũng không biết - sự kiện rất quan trọng là 'bốn năm mật
đàm của Kissinger (từ đầu 1969 tới cuối 1972) là hư vô' vì cuối cùng ông
đã chấp nhận tất cả những đòi hỏi gói ghém trong 10 điểm của Mặt Trận
Giải Phóng (MTGP) đưa ra từ năm 1969.
Kissinger còn nhượng bộ nhiều hơn đòi hỏi, đó là chấp nhận rút hết quân đội Mỹ nội trong 60 ngày.
Lập
trường đàm phán 10 điểm của MTGP đâu có đòi hỏi điều này? Và trong bốn
năm ấy, có tới gần 21.000 người quân nhân Mỹ thiệt mạng, tương đương
bằng 36% tổng số tử thương của Mỹ trong cả cuộc chiến (58.200).
Trong
bốn năm ấy, bao nhiêu thương vong, tàn phá, cho cả hai miền Nam, Bắc.
Vụ ném bom B-52 tại Hà Nội cuối năm 1972 còn đào sâu thêm nữa hận thù
Nam Bắc.
Khi tôi hỏi Tổng thống Thiệu về vụ này, ông trả lời:
"Nếu Kissinger có thể ném bom Dinh Độc Lập thì ông ta (TT Thiệu dùng chữ khác) cũng đã không ngần ngại."
Ông
Thiệu cho rằng nếu Mỹ cứ rút quân đi và không có Hiệp định Paris thì có
lợi hơn nhiều cho miền Nam, vì ít nhất Quốc Hội Mỹ còn chút lương tâm,
sẽ không cúp viện trợ quá đột ngột và quá nhanh chóng với lý do là miền
Nam đã có cả hòa bình, cả danh dự, như thế là đủ rồi.
Kissinger
nhất quyết phải có được một hiệp định để chứng tỏ rằng ông đã thành công
và giữ được sự tin cậy (credibility) của chính sách ngoại giao Hoa Kỳ.
Sự thực là ngược lại.
Vì phim không soi sáng về những sắp xếp xảo
quyệt của ông Kissinger để tháo chạy cho nên đã làm cho khán giả tiếp
tục hiểu lầm về những gì đã dẫn tới bi kịch trong phần kết của cuốn
phim: Sài Gòn sụp đổ và ngày cuối cùng là thê lương ảm đạm.
Trong cuốn The Palace File (Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập) (1986) chúng tôi có đề cập tới những sắp xếp của Kissinger (Chương 5 và 9).
Chắc
chắn rằng những nhà bình luận của phim The Vietnam War đã đọc cuốn này,
vì có nhắc tới một câu nói đến việc Tổng thống Thiệu phàn nàn về "Mỹ
đã tìm được nhân tình mới (Trung Quốc)…" nhưng không dẫn nguồn, mà chỉ
nói "Ông Thiệu nói với một phụ tá." Và chỉ có thế, không nhắc tới những
tài liệu và bằng chứng về phản bội.
Đây là một thiếu sót quan
trọng vì cuốn The Palace File đã được William Safire của tờ New York
Times đánh giá là "Một cuốn sách làm ta mở mắt", và The New York Times/
Book Review còn chọn nó cho các ứng cử viên Tổng Thống phải đọc: "Vừa
Đọc Vừa Vận Động: Một Lớp Cấp Tốc Cho Chức Vị Tổng Thống." Sách cũng
được TT Ronald Reagan và cựu ngoại trưởng George Schultz trân trọng.
Mười
năm sau cuộc chiến, Đại sứ Martin đã đi tới kết luận: "Rút cuộc chúng
ta chỉ phủi tay và tháo chạy" (In the end we simply cut and ran).
Trong
một buổi làm việc tại Trung Tâm Quân Sử Lục Quân Hoa Kỳ có Đại tướng
Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu trưởng quân đội VNCH và Trung tướng Ngô
Quang Trưởng, Tư lệnh Quân khu I tham dự, Tướng William Westmoreland,
cựu Tư lệnh quân lực Mỹ tại Việt Nam đã tóm gọn sự sụp đổ bằng ba chữ:
"We betrayed you!" - Chúng tôi đã phản bội các ông.
Kết luận
Điểm
son của phim The Vietnam War là đã phần nào lấy lại danh dự cho người
quân nhân Mỹ vì họ đã phải chiến đấu trên một chiến địa khó khăn, hiểm
trở, chấp nhận thương vong, rồi trở về thấy quê hương mình bị chia rẽ.
Họ không được chào đón hân hoan như đoàn quân chiến thắng sau Thế Chiến
II. Nhiều khi còn bị chế riễu.
Tuy
nhiên bộ phim thiếu trung thực và thiên lệch. Burns và Novick chỉ nói
đến 'một nửa ly nước vơi' (half empty). Chúng tôi thấy đã có bài trên
internet với chủ đề "Burns và Novick, những người thày của quân bình sai
lầm" (Burns and Novick, masters of false balancing).
Phim lấy
tên là THE VIETNAM WAR mà lại không nói về lý do tại sao có cuộc
chiến, và những gì đã thực sự xảy ra - WHY VIETNAM WAR? WHAT HAPPENED?
Như
chúng tôi đã đề cập trong bài trước: lý do nhảy vào Việt Nam của năm
đời tổng thống Hoa kỳ (Ngoại trưởng Foster Dulles còn dùng ba chữ "Take
the plunge" - phải lao vào) là để bảo vệ quyền lợi của Mỹ chứ không
phải để bảo vệ tự do của người Miền Nam.
Sau cùng, thật đáng tiếc
là bộ phim đã không rút ra được những bài học quan trọng cho nước Mỹ và
đồng minh - WHAT LESSONS FROM THE WAR? Chúng tôi đã tóm gọn một số bài
học trong cuốn KĐMNV (Chương 28) và KĐMTC (Chương 20), thí dụ như 'đừng
can thiệp quá sâu vào nội bộ chính trị và quân sự của nước khác.'
Ta
có thể đặt ra một câu hỏi: liệu bài học này có thể giúp cho nước Mỹ
tránh được những lầm lỗi trong tương lai như đã lầm lỗi khi can thiệp
quá sâu vào việc lật đổ chính phủ Mossadeq ở Iran và việc giải tán quân
đội Iraq sau khi lật đổ Sadham Hussein, dẫn đến tình trạng sình lầy của
nước Mỹ ngày nay ở Trung Đông hay không?
***
Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, Cựu Tổng trưởng
Kế hoạch VNCH từ năm 1973 đến 1975, phụ tá về tái thiết của Tổng thống
Nguyễn Văn Thiệu. Hiện định cư tại Hoa Kỳ, ông đã xuất bản các cuốn
sách Khi Đồng minh Tháo chạy (2005) và Khi Đồng minh Nhảy vào (2016).








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét