Thứ Bảy, 30 tháng 9, 2017

Đã hết sợ chết chung, chết chùm


FB Thach Vu





Một điều đã trở thành gần như quy luật trong nhiều thập niên qua khi có các tranh chấp trong nội bộ đảng CSVN. Đó là dù thù nhau cách mấy các phe phái vẫn quyết không để “phản động” lợi dụng, và không để “đắm thuyền chết tất” như tại Đông Âu.

Thật vậy, trong suốt hơn 30 năm sau triều đại Lê Duẩn, phe áp đảo ở thượng tầng lãnh đạo Đảng không đánh chết hẳn phe thua. Thường họ chỉ loại trừ vài nhân vật hệ trọng nhất của phía đối phương ra khỏi vị trí quyền lực, như Võ Văn Kiệt, Nguyễn Hà Phan, Lê Khả Phiêu, … là coi như “ổn” và tạm sống chung hòa bình cho đến kỳ tranh quyền trước đại hội đảng kế tiếp. Việc trả thù chẳng mấy khi lan xuống tới đời con cái. Trong một số trường hợp, con cái đối phương còn được đối đãi đặc biệt như cái giá thương lượng cho sự “chịu thua” của các ông bố, như con cái tướng Võ Nguyên Giáp, con cái Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch, v.v…

Nhưng nay, tại thời điểm 2017, không có vẻ gì cho thấy phe đang áp đảo ở thượng tầng cho đối phương của họ đường sống. Phe nhóm ông Nguyễn Phú Trọng đang gia tăng từng bước, đánh các đối thủ từ đời cha sâu xuống đời con và rộng ra các cán bộ từng có thời thân cận. Họ đánh thẳng vào toàn bộ hệ thống kinh tài của đối phương, đặc biệt là hệ thống ngân hàng.

Ông Trọng cũng vừa đánh vừa không để cho đối phương chạy nữa. Sau kinh nghiệm những vụ Phùng Quang Thanh, Trịnh Xuân Thanh, và tương tự, nay ông Trọng cẩn thận ném đối phương vào tù trước rồi mới hạch tội họ trên báo đài; hoặc kéo họ về trung ương canh gác ngày đêm trong lúc luận tội và trừng phạt. Cựu Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng bị chận ở phi trường, cấm ra nước ngoài, cựu ủy viên Bộ Chính trị kiêm Bí thư Thành ủy Đinh La Thăng bị canh gác ngày đêm tại Hà Nội là một vài thí dụ điển hình.

Nhưng tại sao lại là lúc này? Tại sao phe ông Nguyễn Phú Trọng không còn sợ “phản động” lợi dụng nữa? cũng không sợ “đắm thuyền chết tất” nữa?

3 lý do sau đây đã hiện ra rõ nhất:

Trước hết, ông Trọng và nhóm tham mưu của ông biết hiện nay chẳng có thế lực “phản động” nào trong nước có khả năng lợi dụng các xung đột nội bộ đảng được cả. Thế lực duy nhất có khả năng làm điều đó chỉ có thể là Bắc Kinh. Nhưng Bắc Kinh lại chính là chỗ dựa của phe cánh ông Trọng. Thế là họ chẳng có gì phải sợ.

Kế đến, với kinh nghiệm đã thấy về khả năng “hồi sinh” của ông Nguyễn Tấn Dũng trong quá khứ, có lúc đã khiến ông Trọng phải mếu máo thừa nhận, thì cánh ông Trọng không thể không dùng cơ hội hiện nay để thực sự tận diệt toàn bộ phe ông Nguyễn Tấn Dũng. Họ phải chặt cho hết mọi nhân sự thân tín của đối phương còn ngồi ở vị trí quyền lực từ cấp tỉnh thành đến ban ngành trung ương; phải cướp cho sạch mọi loại công cụ tài chính, truyền thông còn sót lại của đối phương; và cho thuộc hạ chiếm kín mọi vùng tiềm năng sức mạnh của đối phương, như khu vực kinh tế Phú Quốc.

Và lý do sau cùng – cũng là lý do khó hiểu nhất cho giới quan sát phương Tây – là vì cánh ông Trọng cần chứng tỏ với Bắc Kinh họ là những người đáng được chống lưng nhất trong mọi phe phái tại Việt Nam.

Thật vậy, đây là một truyền thống khá đặc thù trong thế giới cộng sản. Khi lãnh tụ một nước cộng sản đàn em muốn dựa vào sự bảo trợ của một nước cộng sản đàn anh để thanh toán các đồng chí đối thủ của mình, lãnh tụ đó cố sức chứng minh ông là người học trò xứng đáng nhất để quan thầy hỗ trợ, chống lưng. Và  cách chứng minh đã “toàn tâm toàn ý theo thầy” là đem về nước mình áp dụng mọi chính sách, mọi chiến dịch do “thầy” sáng chế, dù nước mình KHÔNG có nhu cầu hay hoàn cảnh tương tự.

Lịch sử cho thấy khi ông Mao Trạch Đông muốn dựa vào nguồn hỗ trợ tiền bạc, vũ khí từ Stalin để diệt hoặc lấn át hết các đồng chí đối thủ trong đảng CSTQ, họ Mao đem về áp dụng từ hệ thống chính ủy quân đội đến hệ thống tù lao cải và vô số các sáng chế khác được xem là của Stalin, dù có thích hợp với xã hội TQ hay không. (Xin đọc thêm trong cuốn Mao The Unknown Story của vợ chồng sử gia Jung Chang và Jon Halliday). Trò này khá hữu hiệu đối với tâm lý Stalin, một người luôn có khao khát mình cũng vĩ đại như Lênin.

Khi ông Hồ Chí Minh muốn dựa vào viện trợ của Mao để loại các đồng chí đối thủ của ông trong đảng và diệt các lãnh tụ dân chủ ngoài đảng thời thời thập niên 1940 và 1950, ông không chỉ cho áp dụng từ quần áo đến chính sách mà còn để cả hàng ngàn đại cán, tiểu cán TQ sang tung hoành trên đất Việt chỉ đạo cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ; dù ông Hồ lúc đó biết giới địa chủ tại VN đã ít, mà địa chủ ác ôn lại càng ít, và quan hệ bóc lột gay gắt giữa địa chủ và nông nô hầu như không có trong lối sống truyền thống làng xã Việt Nam. Phần lớn những điều này nay đã được đảng CSVN thừa nhận.

Khi 2 ông Lê Duẩn – Lê Đức Thọ muốn dựa vào Mao để vô hiệu hóa ông Hồ và toàn nhóm thân tín như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, hai ông họ Lê  đã cho tiến hành chiến dịch chống Chủ nghĩa xét lại hiện đại vào nửa sau của thập niên 1960, rập khuôn chiến dịch mà Mao tung ra tại TQ để phản đối chủ trương chung sống hòa bình với phương Tây của Tổng Bí Thư CS Liên Xô Khrushchev. Chắc chắn lúc đó ông Duẩn và ông Thọ dư biết các ông Hoàng Minh Chính, Bùi Công Trừng, và hàng trăm gia đình nạn nhân khác trong vụ án Xét lại chống đảng tại VN chẳng dính dáng gì tới Khrushchev tại Liên Xô.

Và nay khi ông Nguyễn Phú Trọng muốn dựa vào nguồn tài lực khổng lồ của ông Tập Cận Bình để thanh toán tận gốc rễ phe cánh Nguyễn Tấn Dũng, ông Trọng đang khuân trọn bài bản Đả hổ đập ruồi của họ Tập về nước áp dụng với cái tên bình dân hơn – Lò đốt củi. Các đối thủ chính trị của ông Tập trở thành “hổ” và “ruồi”, còn các đối thủ của ông Trọng trở thành “củi tươi”, “củi khô”. Các cẩm nang thực hiện của Vương Kỳ Sơn (hung thần dưới trướng họ Tập) đang được theo sát từng câu từng chữ.

Rõ ràng cách thức chứng minh “toàn tâm toàn ý theo thầy” này đã có hiệu quả. Một mặt nó gãi rất đúng tâm lý ông Tập Cận Bình, người không còn dấu giếm tham vọng muốn qua mặt cả Giang Trạch Dân và Đặng Tiểu Bình để sánh vai Mao Trạch Đông trong lịch sử TQ. Ngược lại cánh ông Trọng đã được cung cấp đầy đủ tài lực, vật lực để đè bẹp khả năng mua chuộc và quậy phá của ông Nguyễn Tấn Dũng trước đây.

Nhưng càng thành công với phương pháp này, cá nhân ông Nguyễn Phú Trọng nói riêng và cả nhóm thân cận của ông nói chung, đang ngày càng mất thêm khả năng cưỡng lại ý đồ của “thầy hiểm độc”, và ngày càng ao ước mãnh liệt hơn một tương lai vững chắc trong vị trí  “học trò ngoan”.

Tóm tắt là toàn nhóm Nguyễn Phú Trọng đang chìm càng lúc càng sâu vào tâm thức “Chỉ biết còn Bắc Kinh còn mình”.

Và đó là đại họa cho dân tộc!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét