Thứ Sáu, 29 tháng 9, 2017

Vẫn chưa khôn dù đã dại nhiều lần

Trân Văn




Tướng Nguyễn Chí Vịnh và tướng Phạm Trường Long chụp hình chung tại cuộc “giao lưu quốc phòng biên giới”. (Hình: Bộ Quốc phòng VN)


Theo báo chí Việt Nam, “Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Trung Quốc lần thứ tư đã thành công tốt đẹp”.

Trả lời phỏng vấn của Đài Phát thanh Quốc gia (VOV – Tiếng nói Việt Nam), tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Quốc phòng, bảo rằng, “tác dụng trực tiếp” của cuộc giao lưu diễn ra trong hai ngày 23 và 24 tháng 9 là “làm cho biên giới bình yên, làm cho lực lượng của hai bên biên giới có một mối quan hệ tốt đẹp để cùng giải quyết những vấn đề cơ bản của lực lượng bảo vệ biên giới là bảo vệ chủ quyền lãnh thổ mỗi bên”.

Theo tướng Vịnh “những hoạt động như thế làm tăng sự tin cậy giữa hai đảng, hai quân đội” giúp “giải quyết được những điểm khác biệt giữa hai nước trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng luật pháp quốc tế và chia sẻ lợi ích để đảm bảo hài hòa, đem lại lợi ích cho cả hai nước”. Sau giao lưu cấp Bộ Quốc phòng, trong tương lai, tướng Vịnh cho biết “sẽ có giao lưu cấp quân khu, cấp tỉnh, rồi tăng cường giao lưu thôn bản, lấy lực lượng bảo vệ biên giới làm nòng cốt”.

***

Chỉ bốn tuần trước khi tướng Vịnh đưa ra những tuyên bố vừa kể, từ 29 tháng 8 đến 4 tháng 9, Trung Quốc tổ chức thực tập tác xạ ở vùng biển vốn thuộc chủ quyền của Việt Nam, phạm vi cuộc tập trận mở rộng đến mức chỉ cách bờ biển thành phố Đà Nẵng chừng 75 hải lý. Khi Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam lên tiếng phản đối, Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc đáp lại rằng, các quốc gia có liên quan cần nhìn cuộc tập trận này “một cách bình tĩnh và hợp lý” vì nó diễn ra trong “vùng biển thuộc chủ quyền của Trung Quốc”. “Chủ quyền” mà từ ông Tập Cận Bình, Chủ tịch Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trở xuống liên tục lập đi, lập lại, chắc nịch như “đinh đóng cột” là “bất khả tranh biện”...

Xa hơn một chút, cách nay khoảng hai tháng, Việt Nam yêu cầu Repsol – một tập đoàn dầu khí của Tây Ban Nha – dừng thăm dò tại lô 136/3, cách bờ biển Vũng Tàu khoảng 200 cây số. Vào thời điểm đó, một số chuyên gia về khu vực châu Á – Thái Bình Dương bảo rằng, Việt Nam buộc phải làm như thế vì Trung Quốc dọa sẽ tấn công các tiền đồn của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa nếu Việt Nam không chấm dứt hoạt động thăm dò – khai thác dầu khí tại lô 136/3. Một số nguồn thạo tin cho biết, trong thực tế, Trung Quốc đã điều động khoảng 200 tàu đủ loại đến vùng biển thuộc lô 136/3, bởi “lực bất tòng tâm”, Việt Nam buộc phải thoái bộ dù rõ ràng lô 136/3 nằm trong vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam...

Nếu đem những sự kiện vẫn còn nóng hổi ấy so với tuyên bố của tướng Vịnh, người ta ắt sẽ hoang mang, không rõ tướng Vịnh thuộc loại nào, lạc quan tới mức đáng ngại hay dễ quên đến độ khó ngờ? Từ lúc nào, chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam chỉ được khoanh lại trên đất liền, chủ quyền trên biển không còn làm một thứ trưởng quốc phòng như ông Vịnh phải bận tâm nên ông tỏ ra rất thản nhiên, chắp thêm cánh cho “Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Trung Quốc lần thứ tư”?

***

Đây không phải lần đầu tiên tướng Vịnh tỏ ra lạc quan tới mức đáng ngại và dễ quên đến độ khó ngờ.

Sau khi dân chúng Việt Nam liên tục đổ ra đường biểu tình phản đối việc Quốc hội Trung Quốc yêu cầu Quốc hội Việt Nam rút lại Luật Biển với lý do đạo luật này “bất hợp pháp, xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc tại biển Đông”, rồi Trung Quốc tuyên bố “thành lập thành phố Tam Sa” (bao gồm các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam), Tập đoàn Dầu khí của Trung Quốc (CNOOC) tổ chức gọi thầu, mời thăm dò - khai thác dầu khí tại chín lô vốn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam,… suốt nửa cuối năm 2012, đầu năm 2013, trả lời tờ Tuổi Trẻ, tướng Vịnh nhắc dân chúng Việt Nam rằng, Việt Nam và Trung Quốc có một “di sản quý báu là sự tương đồng ý thức hệ”. “Đặc trưng của ý thức hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc là một Đảng Cộng sản lãnh đạo”.

Ông tướng này nhấn mạnh rằng, “điểm tương đồng đó đã tạo ra mối quan hệ đặc biệt giữa Việt Nam và Trung Quốc”, “chi phối cách ứng xử của hai nước” và “nếu có được một người bạn xã hội chủ nghĩa rất lớn bên cạnh ủng hộ và hợp tác cùng có lợi thì sẽ vô cùng thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. Nhân vật được báo chí Việt Nam ca ngợi như một “chuyên gia chiến lược” cho rằng “khi đã là người cộng sản với nhau, để giải quyết bất cứ vấn đề nào đó mà gọi nhau là đồng chí thì còn hơn là quay lưng không nhìn nhau hoặc đập bàn, đập ghế ngài và ‘tôi”.

Tướng Vịnh không phải là nhân vật cá biệt và cũng chẳng lẻ loi. Hai năm sau, Phùng Quang Thanh, một ông tướng khác, lúc bấy giờ là Bộ trưởng Quốc phòng, nhắc nhở lãnh đạo chính quyền các địa phương tại một hội nghị diễn ra vào cuối năm 2014 rằng ông thấy “lo lắng” vì “không biết tuyên truyền thế nào mà từ trẻ con đến người già đều có khuynh hướng ghét Trung Quốc, ai nói tích cực cho Trung Quốc là ngại”. Tướng Thanh nhấn mạnh “điều đó nguy hiểm cho dân tộc” vì “bảo vệ chủ quyền lãnh thổ nhưng vẫn phải bảo vệ hòa bình, ổn định chính trị, thành quả cách mạng và giữ quan hệ hữu nghị với Trung Quốc, tăng cường phát triển toàn diện kinh tế - xã hội đất nước”.

Nghe phát biểu của các ông tướng, nhiều người kêu Trời vì ý thức hệ của những người cộng sản.

***

Chưa biết đến bao giờ mới có thống kê về giá của việc phát triển - bảo vệ ý thức hệ cộng sản tại Việt Nam. Khởi đầu từ ông Hồ Chí Minh – người khẳng định “tinh thần quốc tế vô sản” là một trong những tiêu chuẩn của “đạo đức cách mạng”. Đó là lý do năm 1953, khi hai miền Nam – Bắc Triều Tiên ký Thỏa thuận đình chiến, Đảng Lao động Triều Tiên chính thức trở thành đảng cầm quyền ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Bắc Triều Tiên), ông Hồ Chí Minh hào hứng tuyên bố: “Đó là thắng lợi lớn của phe ta. Thắng lợi của anh em ta tức là thắng lợi của ta”.

Đó cũng là lý do ngày 14 tháng 9 năm 1958, ông Phạm Văn Đồng, Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Công hòa, gửi công hàm cho Trung Quốc khẳng định, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa “tán thành” và “tôn trọng” Tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc (bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa), bất kể trước đó đúng một tuần, dựa trên phản đối của Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Quốc gia Việt Nam (sau này là Việt Nam Cộng hòa), ngày 7 tháng 9 năm 1958, Hội nghị San Francisco giải quyết các vấn đề về lãnh thổ sau Thế chiến thứ hai, đã ghi phản đối đề nghị giao quần đảo Hoàng Sa cho Trung Quốc vào biên bản (khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vì từ xưa đến nay vẫn thuộc cương vực Việt Nam).

Đó cũng là lý do để tháng 1 năm 1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN khóa 2 ra Nghị quyết 15, xác định Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là “tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Nam Á”, vì “cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới” nên sẽ sử dụng “bạo lực cách mạng”, thực hiện “cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân”, đánh bại đế quốc, giai cấp địa chủ, phong kiến, tư sản mại bản ở miền Nam.

Đó cũng là lý do từ cuối thập niên 1980, việc nhắc đến dã tâm và tội ác của Trung Quốc khi toan dạy cho Việt Nam một bài học năm 1979 bị lờ đi, các bia tưởng niệm bị đục bỏ, các nghĩa trang chôn cất những người lính Việt tử trận khi bảo vệ biên giới bị bỏ hoang bởi giới lãnh đạo Việt Nam chủ trương phải “bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc bằng mọi giá” bởi “Mỹ là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm. Ta phải tìm đồng minh, đồng minh đó là Trung Quốc”.

Đó cũng là lý do “16 chữ vàng” (Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai), “tinh thần bốn tốt” (Láng giềng tốt. Bạn bè tốt. Đồng chí tốt.

Đối tác tốt) mà ông Giang Trạch Dân đề ra, được giới lãnh đạo CSVN đón lấy rồi phổ biến trên khắp Việt Nam, bất kể thực tế biển Đông. Phải tới tháng 5 năm 2014, khi Trung Quốc kéo giàn khoan HD 981 vào thăm dò – khai thác dầu khí ở quần đảo Hoàng Sa trong hai tháng rưỡi, bất chấp phản đối của Việt Nam, một số viên chức cao cấp đã nghỉ hưu như ông Vũ Mão, cựu Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, mới thừa nhận, các đồng chí của ông đang thắc mắc rằng, phải nói với nhân dân như thế nào về “16 chữ vàng và tinh thần bốn tốt (?)

Tinh thần quốc tế vô sản mà sau này, khi Liên Xô tan rã, chính thể cộng sản tại các quốc gia Đông Âu sụp đổ, các giáo trình về chính trị tại Việt Nam sửa lại thành “tinh thần quốc tế trong sáng” còn là lý do để Việt Nam liên tục đề nghị ASEAN kết nạp Bắc Triều Tiên nhưng không thành công vì bị chính Lào và Campuchia phản đối. Tinh thần đó từng khiến ông Nguyễn Minh Triết, cựu Chủ tịch Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khiến công chúng cười nghiêng ngả khi ông cho rằng, Việt Nam và Cuba đang chia nhau canh giữ hòa bình cho thế giới. Khi Cuba thức thì Việt Nam ngủ và khi Việt Nam thức thì Cuba ngủ!

***

Trong cuộc trò chuyện với tờ Tuổi Trẻ hồi năm 2013, tướng Vịnh từng khoe: “Lần đầu tiên mục tiêu đối ngoại ‘vì lợi ích quốc gia, dân tộc’ được nêu rõ trong cương lĩnh và báo cáo chính trị tại Đại hội Ðảng 11. Cùng với ‘lợi ích quốc gia dân tộc’, Ðại hội 11 cũng đặt mục tiêu đối ngoại là ‘vì một nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa giàu mạnh. Hai mục tiêu này thống nhất với nhau”.

Tinh thần quốc tế vô sản không còn là yếu tố chủ đạo nữa?

Có thể.

Mới đây, theo tường thuật của Tân Hoa Xã, khi sang thăm Việt Nam, ông Lưu Vân Sơn, Ủy viên thường vụ của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, bảo với giới lãnh đạo Việt Nam rằng, cả hai đảng cộng sản tại Trung Quốc và Việt Nam “có chung số phận”. Rằng: “Sự phát triển tốt đẹp và ổn định các mối quan hệ song phương sẽ giúp củng cố vị trí lãnh đạo của hai đảng, vì lợi ích của hai Đảng và nhân dân hai nước”. Điều ông Sơn lưu ý không mới. Giới lãnh đạo Đảng CSVN chẳng đã nhiều lần bảo rằng, bất kể thế nào thì cũng phải giữ gìn “thành quả cách mạng” và duy trì “sự ổn định chính trị” đó sao? Hình như đó mới là “lõi”.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét