Nguồn: The Boston Massacre,
History.com

Vào ngày này năm 1770, giữa đêm
tuyết lạnh giá, một đám đông người dân thuộc địa Mỹ đã tập hợp tại Kho Hải quan
ở Boston và bắt đầu khiêu khích những người lính Anh bảo vệ tòa nhà. Nhóm biểu
tình, tự gọi mình là “những người ái quốc” (Patriots, đối lập với những người
trung thành với nước Anh gọi là Loyalists – NBT), đã phản đối việc quân Anh chiếm
đóng thành phố. (Năm 1768, lính Anh được gửi đến Boston để thực thi các biện
pháp đánh thuế không được lòng dân mà Nghị viện Anh đã thông qua mà không sự chấp
nhận của người Mỹ.)
Đại úy Thomas Preston, chỉ huy
Kho Hải quan, đã ra lệnh cho binh sĩ mang súng lưỡi lê ra bên ngoài để bảo vệ
tòa nhà. Những người dân thuộc địa liền phản ứng bằng cách ném bóng tuyết và
nhiều vật khác về phía người Anh. Sau khi bị ném trúng, Binh nhì Hugh
Montgomery liền xả súng vào đám đông. Một lúc sau, các binh sĩ khác cũng bắt đầu
bắn.
Khi khói súng tan, năm người dân
thường được tìm thấy đã chết hoặc sắp chết. Họ gồm Crispus Attucks, Patrick
Carr, Samuel Gray, Samuel Maverick, và James Caldwell. Ngoài ra còn có ba người
khác bị thương. Liệu Crispus Attucks, một người Mỹ gốc Phi, có phải là người đầu
tiên bị bắn chết như chúng ta thường được nghe hay không? Điều đó chưa rõ ràng.
Nhưng cái chết của năm người đàn ông này vẫn được một số nhà sử học xem là các
trường hợp tử vong đầu tiên trong Cách mạng Mỹ.
Các binh sĩ Anh đã bị đưa ra xét
xử, và hai nhà ái quốc John Adams và Josiah Quincy đã đồng ý làm luật sư biện hộ
cho các binh sĩ này nhằm thể hiện sự ủng hộ hệ thống tư pháp thuộc địa. Khi
phiên tòa kết thúc vào tháng 12/1770, hai lính Anh bị kết tội ngộ sát và ngón
tay cái của họ đã bị khắc chữ “M” để trừng phạt tội giết người (Murder.)
“Những Đứa con của Tự do” (Sons
of Liberty) – một nhóm ái quốc được thành lập năm 1765 để phản đối Đạo luật Tem
(Stamp Act) – đã xem Thảm sát Boston là cuộc chiến đấu giành tự do của người Mỹ
và là lý do chính đáng để quân Anh phải rút khỏi Boston. Paul Revere đã tạo nên
một bức điêu khắc vụ việc, mô tả những người lính Anh xếp hàng thành một đội
quân để ngăn chặn những người đại diện cho cuộc nổi dậy thuộc địa. Bản sao của
bức điêu khắc đã xuất hiện khắp thuộc địa và giúp tăng cường sự căm ghét của
người Mỹ trước ách cai trị của Anh.
Tháng 04/1775, Cách mạng Mỹ bắt đầu
khi quân đội Anh ở Boston chạm trán với dân quân Mỹ trong trận Lexington và trận
Concord. Lính Anh được lệnh bắt các nhà lãnh đạo ái quốc Samuel Adams và John
Hancock tại Lexington, và tịch thu các kho vũ khí tại Concord. Cả hai nhiệm vụ
này đều thất bại vì Paul Revere và William Dawes đã biết được kế hoạch của người
Anh. Họ cảnh báo Adams và Hancock, cũng như nhanh chóng tập hợp dân quân Mỹ.
11 tháng sau đó, tức tháng
03/1776, quân Anh đã phải sơ tán khỏi Boston sau khi George Washington chiếm được
công sự và đại bác ở Dorchester Heights. Cuộc giải phóng không đổ máu này đã kết
thúc tám năm quân Anh chiếm đóng Boston. Nhờ chiến thắng này, tướng Washington,
chỉ huy của Quân đội Thuộc địa, đã được trao huy chương Quốc hội Lục địa đầu
tiên. Cách mạng Mỹ đã kéo dài thêm năm năm mới kết thúc, khi Tướng Charles
Cornwallis đầu hàng Washington tại Yorktown, Virginia.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét