Cụ bà tuổi 80, tóc bạc trắng, tai đã lãng, nhưng lối nói
chuyện vẫn sắc sảo với chất giọng rặt Nam Bộ, cứ ngơ ngác hỏi đi hỏi lại cho rõ
tên mấy độc giả mê văn thời cũ trước khi đề vài chữ vào bộ sách làm kỷ niệm.
Trước 1975, cụ bà đó, Nguyễn Thị Thụy Vũ, tên thật: Nguyễn
Thị Băng Lĩnh, là một trong năm nhà văn nữ nổi tiếng nhất miền Nam (bốn người
khác: Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, Nhã Ca, Trùng Dương).
Gái bar và những người mẹ cao quý
Tháng 3/2017, công ty Phương Nam Book liên kết với nhà xuất
bản Hội Nhà văn cho in lại 10 cuốn sách của nữ văn sĩ miền Nam một thời, gồm ba
tập truyện ngắn: Mèo đêm, Lao vào lửa, Chiều mênh mông và bảy tập truyện dài:
Khung rêu (giải thưởng Văn học miền Nam 1971), Thú hoang, Nhang tàn thắp khuya,
Ngọn pháo bông, Như thiên đường lạnh, Cho trận gió kinh thiên, Chiều xuống êm đềm.
Cũng lần đầu tiên sau 42 năm, toàn bộ tác phẩm của nhà văn
miền Nam này được in lại đầy đủ. Khác với các tác giả miền Nam trước đây, mỗi lần
xuất hiện trở lại, báo chí thường dè dặt, nhưng với Nguyễn Thị Thụy Vũ, báo chí
chính thống trong nước truyền thông nhiệt tình, có cả những bài báo muốn lái
tác phẩm của bà về hướng "đấu tranh giai cấp".
Buổi ra mắt bộ 10 tác phẩm này tại đường sách Nguyễn Văn
Bình (chiều 20/3) là một sự kiện đặc biệt.
Cụ bà Nguyễn Thị Thụy Vũ giờ đây cũng không ưa nói nhiều về
chuyện viết lách. Bởi đơn giản, nhìn lại cuộc đời văn chương của mình cùng những
bể dâu, bà rốt cuộc cũng chỉ coi chuyện viết là "cày chữ nuôi con".
Bản quyền hình ảnh AN NAM
Sinh năm 1937 ở Vĩnh Long, trong một gia đình khá giả. Cha
bà là nhà văn Mặc Khải, cô là thi sĩ Phương Đài đều hoạt động kháng chiến.
Khoảng 1960-1965, bà dạy tiểu học tại Vĩnh Long, rồi không
chấp nhận được môi trường sư phạm bó hẹp, khăn gói lên Sài Gòn học Anh ngữ ở Hội
Việt Mỹ. Tại đây, ngay từ năm đầu tiên học tiếng Anh, bà được một bạn học (về
sau mới biết, anh ta thuộc giới 'ma cô') giới thiệu đi dạy tiếng Anh cho các cô
gái làm snack bar, những phụ nữ Việt Nam cặp kè binh lính, sĩ quan Mỹ.
"Mấy cô gái cặp kè Mỹ để nuôi thân giữa Sài Gòn lúc đó
tôi dạy thường ít học. Có khi một chữ 'Hello' dạy một tuần không thuộc. Tui mới
nhận ra, họ đi học vì cần người tâm sự là chính.
"Có cô kia đã có năm đứa con với người chồng Việt, chiến
tranh chồng chết nên phải đi làm nghề này kiếm sống. Cổ gửi con về bên ngoại, hằng
tháng gửi tiền về nuôi. Tụi nhỏ ăn học và lớn lên, có đứa học tới đại học,
nhưng không hề biết mẹ nó làm nghề đó.
"Theo con mắt của tui, đó là một người mẹ cao quý. Cũng
có cô đến mùa đông mặc một cái áo len cũ rách nhàu nhĩ. Tui hỏi thăm sao có tiền
không chịu chưng diện, cô ấy nói chiếc áo len rách này là kỷ vật của mối tình đầu
ở quê nhà", nhà văn Thụy Vũ kể.
Thực tế trần trụi, khốc liệt và cũng thấm đẫm buồn đau về đời
sống những cô gái làm ở các snack bar, dan díu với lính Mỹ đã đi vào những
trang viết của Nguyễn Thị Thụy Vũ, gây chấn động dư luận vào khoảng cuối thập
niên 1960, đầu thập niên 1970. Với các tập: Mèo đêm, Lao vào lửa, Ngọn pháo
bông,… Nguyễn Thị Thụy Vũ trở thành một hiện tượng văn học gây ngạc nhiên trên
văn đàn miền Nam.
'Như gái có chồng còn đi ăn sương'
Về sau, Võ Phiến viết trong Văn học niềm Nam tổng quan nói về
sách của Thụy Vũ là dạng sách mà "các thế hệ phụ nữ nước ta trước đó không
mấy kẻ dám đọc, đừng nói đến chuyện viết".
"Mình tưởng tượng nhưng cũng từ trên thực tế. Truyện của
tui, như Khung rêu, có thiệt trên 70%. Nên viết xong tui với ông già lục đục với
nhau vài năm, ổng nghĩ ổng là nhân vật địa chủ trong truyện.
"Truyện viết về gái điếm, gái bar tui viết xong có anh
lính miền Nam tìm đến nhà xô cửa đi vào ôm tui vì tưởng tui là gái bar thì mới
viết được như vậy. Cũng có anh cầm lựu đạn qua nói tui viết về ảnh và kêu tui
phải lên tiếng xin lỗi," bà nhớ lại.
Mộ tài, chung sống với nhà thơ Tô Thùy Yên (một sĩ quan tâm
lý chiến của chính quyền Sài Gòn, một trong những nhà thơ quan trọng bậc nhất của
văn học miền Nam trước 1975) và có đến bốn mặt con, Nguyễn Thị Thụy Vũ chấp nhận
một mình viết văn nuôi con.
Nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ trong buổi ra mắt sách hôm 20/03
Bà kể: "Hằng ngày tui phải chạy đến các tòa soạn báo viết
truyện feuilleton (truyện dài kỳ). Đến báo này viết ba trang rồi lại tất tả chạy
qua báo khác, cứ như vậy. Trăm hay không bằng tay quen. Đẻ con thì tự cho mình
được nghỉ ba ngày để vào bệnh viện. Đẻ xong lại giao con chạy đi viết.
"Có chủ báo trả mỗi feuilleton ra là 20.000 đồng (tiền
Việt Nam Cộng hòa), nhưng có ông chủ thì kì kèo bớt một thêm hai. Đó là cái nhục.
Mình đi làm thuê cho người ta mà người ta coi đồng tiền to quá."
Bà coi Võ Phiến là người thầy, đàn anh nâng đỡ trong nghề
văn. Những truyện đầu tiên bà gửi đến tạp chí Bách Khoa và được ông khuyến
khích viết tiếp.
"Việc viết feuilleton như là gái có chồng rồi vẫn đi ăn
sương. Tôi coi tờ Bách Khoa chỗ ông Phiến khác nào ông chồng già hiền lành
nghiêm túc lặng lẽ luôn chờ tui về. Viết cho Bách Khoa của ông Phiến, tui có cảm
giác mình được làm văn chương," bà Thụy Vũ kể lại.
Hỏi, các nhà văn nữ thời đó có chơi với nhau không? Nguyễn
Thị Thụy Vũ: "Không, tụi tui mỗi người một thế giới; ít gặp nhau đàm đạo
văn chương như mấy ông. Tụi tui chỉ thăm nhau lúc đẻ.
"Ông Thanh Tâm Tuyền nói rằng, phụ nữ không nên léo
hánh chấn văn đàn, cần phải đuổi mấy bà vô bếp nấu ăn. Tui không tán thành.
Nhưng mà thiệt tình tui lúc nào cũng thấy thua kém đàn ông về mặt sâu sắc. Lúc
nào tui cũng nhượng bộ đàn ông chút xíu."
"Vậy bà có quan tâm đến nữ quyền không, ở thời điểm
đó?" một người trẻ hỏi. Đáp: "Tui ít biết về cái đó. Nhưng nếu có nữ
quyền trong truyện tui thì đó là viết một cách tự nhiên."
'Giải phóng'
Bản quyền hình ảnh An Nam
Cũng như nhiều người, bà quen dùng từ "giải phóng"
để nói đến mốc sự kiện chính trị 30/4/1975. "Tui có chừng chục truyện viết
xong xuôi rồi chưa kịp công bố thì "giải phóng". Mỗi đêm, thằng Công
an Khu vực ở làng báo chí Thủ Đức đến gõ cửa nhà tui lục soát ba lần. Tui thấy
phiền phức quá nên đem mớ bản thảo đi đốt. Sau lại tiếc, mình cũng ngu, phải
chi mình gửi về quê cho bà già là xong."
Bà kể tiếp về giai đoạn bị tra xét lý lịch, quan điểm:
"Các ông Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức thương tình, dặn tui ra trước cán bộ
phải nói vầy, nói vầy để được cảm thông, nhưng tui vẫn nói thẳng thắn mọi chuyện
theo cách của tui. Về sau ông già tui nói, 'tao đã mở đường cho nó nhưng nó cứ
chui vào chỗ khó' nhưng ổng tự hào về tui vì tui có lý tưởng riêng.
"Cuộc sống sau 'giải phóng' vô cùng khó khăn. Tui một
mình nuôi bầy con nheo nhóc, có đứa bị thiểu năng nằm một chỗ. Tui phải để nó
cho mấy đứa lớn cho ăn, chăm sóc còn mình thì đi làm thuê bán vé xe bus cho một
người bạn.
"Xe chạy tuyến Thủ Đức - Sài Gòn, từ sáng đến tối mịch
mới về nhà. Về đến nhà thấy con cái đứa thì nằm ngủ trên vũng nước đái, đứa lêu
lổng đi chơi không cho em ăn… nhìn cái cảnh đó tui muốn chết đi cho rồi. Khó
khăn quá, năm 1980 tui bồng bế tụi nhỏ về Bình Phước nương nhờ má cho đến bây
giờ," bà kể.
Làm nhiều nghề kiếm sống nuôi con, từ chăn dê, buôn bán, trồng
tiêu…, cây bút nữ dấn thân nhất của văn đàn miền Nam trước 1975 đã không còn viết
gì nữa kể từ sau "giải phóng". Bà kể: "Ổng (tức, Tô Thùy Yên)
thì theo gia đình vợ con ổng đi sang Mỹ, có đời sống riêng. Tui làm đủ nghề lo
cho con.
"Ba đứa con tui cũng thành nhân, yên bề gia thất. Có một
thằng làm thơ, người ta nói nó có chịu ảnh hưởng của cha nó. Nhưng mấy con tui,
đứa nào cũng nghèo, chẳng giúp gì được mình. Tui sống nhờ đứa con bị tàn tật.
"Xưa tui bỏ nó ở nhà đi làm báo, nó bị té, ảnh hưởng
não nên nằm một chỗ đến giờ, vậy mà giờ nó nuôi tui bằng tiền từ thiện bạn bè,
các nhà hảo tâm thương tình giúp đỡ…"
Người mô tả về xã hội bên lề Sài Gòn khốc liệt một thuở lại
cũng chính là người chịu đựng những hệ lụy mà chiến tranh để lại.
Trở lại văn đàn trong nước sau gần nửa thế kỷ, trong bối cảnh
sách vở văn chương đang ở vào một giai đoạn hỗn loạn và phân hóa mạnh mẽ, thì
tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ minh chứng rằng, những gì là chân giá trị sẽ
không bị phủ lấp dưới bụi thời gian và những định kiến.




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét