Chia sẻ trong lễ kỷ niệm 20 năm thành lập Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông vào sáng 16/09, ông Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã cho hay: “Ngày nay hơn bao giờ hết, trong sự nghiệp nghiên cứu khoa học và đào tạo của đất nước đang đứng trước yêu cầu mới như Nghị quyết 29 nói là đổi mới căn bản toàn diện. Một trong những yêu tố để vượt qua là phải vô cùng dũng cảm để vượt qua những suy nghĩ mà bấy lâu nay mình cho là đúng”.
Quan
điểm “thói quen triệt tiêu sự sáng tạo” là điều đúng đắn. Tuy nhiên,
lối mòn trong vận dụng yếu tố Nghị quyết để thúc đẩy sáng tạo, phát
triển kinh tế hay đòi hỏi một sự cởi mở chính trị lại là một “thói quen
cố hữu”. Nói cách khác, khi ông Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam phê phán thói
quen hay suy nghĩ mà mặc định cho là đúng, thì chính ông lại rơi vào
thói quen, suy nghĩ mặc định đó.
Từ
lâu, việc phát triển kinh tế - kỹ thuật bằng Nghị quyết đã trở thành
một đề tài phê phán của nhiều người, bởi bản thân nó lệch pha giữa lý
thuyết và đòi hỏi cuộc sống. Trong khi cuộc sống buộc tiến hành một tầm
nhìn dài hạn và điều chỉnh các biến thiên của nền kinh tế, chính trị thì
Nghị quyết (đặc biệt là Nghị quyết Đảng vốn chi phối đời sống chính trị
- kinh tế) lại là một khuôn mẫu lý thuyết/ chỉ đạo đề ra mang tính bất
di – bất dịch.
Cái
gọi là ý đảng, lòng dân chỉ là những ngôn từ mang tính tuyên truyền, do
đó Nghị quyết Đảng dù mang tính lãnh đạo và định hướng cho việc bảo vệ
và phát triển đất nước, nhưng lại không đủ sức hiện thực hoá các yêu cầu
đề ra của cuộc sống xã hội, và thiếu trầm trọng tính tương tác đối với
phản ánh cuộc sống. Chưa có một số liệu cụ thể nào xác minh Nghị quyết
có phải là lá cơ mà người dân đồng thuận hay ủng hộ, tuy nhiên, người
dân lại là chủ thể thẩm thấu những sai lầm hoặc định hướng phi định
hướng của Nghị quyết Đảng. Từ việc quốc hữu hoá, tiến hành nhà nước
chuyên chính vô sản cho đến doanh nghiệp nhà nước là chủ đạo.
Lý
do cho sự thất bại đó chính là vì Nghị quyết thiếu sự lắng nghe, tổng
hợp cá quan điểm trái chiều trong xã hội – nếu có đi chăng nữa cũng chỉ
rơi vào củ nghĩa hình thức, chủ nghĩa bình phong. Bản thân nghị quyết
chủ yếu được xây dựng dựa vào quan điểm của các cá nhân – lãnh đạo.
Chính vì thế, Nghị quyết thay vì dễ đi sâu vào đời sống người dân, thì
buộc Chính quyền phải huy động một lực lượng lớn từ dư luận viên cho đến
hệ thống báo đầy nhằm thực hiện tuyên truyền.
Các
quan điểm góp ý, phân tích nội dung theo xu hướng “diễn giải” theo
chiều hướng vạch ra của Nghị quyết. Các quan điểm trái chiều bị áp đặt
là trái với quan điểm của Đảng và Nhà nước, hay là diễn biến hoà bình
trong lĩnh vực XYZ.
Không
đâu xa, gần nhất đây (29/08), trên báo QĐND mục Phòng chống tự diễn
biến tự chuyển hoá đã cho đăng tải bài phê phán sự tự diễn biến, chuyển
hoá trên lĩnh vực kinh tế của tác giả Trần Thôn. Tác giả này cho biết,
yếu tố tự diễn biến hay tự chuyển hoá là thiếu tin tưởng vào sự phát
triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đề cao kinh tế tư nhân, xem nhẹ, hạ
thấp vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Và tác giả này kết luận: Lực
lượng “Tự diễn biến”, “Tự chuyển hóa” đến mức độ này có nghĩa họ đã đồng
lõa với các thế lực thù địch để chống phá cách mạng nước ta.
Đáng
chú ý là bài này lại được đăng tải sau khi Nghị quyết Hội nghị TƯ 5 về
phát triển kinh tế tư nhân ra đời. Thay vì nghĩ cách làm sao để kinh tế
tư nhân trở về xứng đáng với vị trí của nó thông qua thay đổi các chính
sách (như Luật thuế giá trị gia tăng 2013, Luật thuế thu nhập doanh
nghiệp 2013 có tạo điều kiện đủ cho kinh tế tư nhân đăng ký kinh doanh
hay gỡ bỏ rào cản pháp lý phân biện loại hình DN giữa DNTN và DNNN hay
không) thì bài tham luận lại chỉ tập trung vào cái đuôi “định hướng
XHCN”, và khẳng định mọi động thái đề cao Kinh tế tư nhân là chống phá
cách mạng.
Nhưng
cũng không thể trách được tác giả Trần Thôn, khi mà tác giả chỉ làm
theo động tác “hát theo” Nghị quyết 11 trong HN T.Ư 5, do ông TBT Nguyễn
Phú Trọng ban hành, trong đó quan điểm chủ đạo và cốt lõi là hoàn thiện
thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Vấn đề là làm gì có “định hướng XHCN” đâu mà hoàn thiện, thậm chí đây
được đánh giá như một sự gắp-lắp đầy khiên cưỡng nhằm giữ cái danh giá
về chế độ gọi là XHCN mà Việt Nam gắn nó vào luôn tên nước.
Đây
không phải là lần đầu mà một Nghị quyết gây ra sự phản ứng bởi tính lạc
hậu của nó, mà từ năm 2013 0 khi Hiến Pháp 2013 được thảo luận, đã có
nhiều ý kiến/ quan điểm chỉ trích, đòi sửa đổi cụm từ “định hướng XHCN”
đầy vô nghĩa đó. Mới đây, một tài liệu của PGS Đào Công Tiến – cựu Hiệu
trưởng ĐH Kinh tế TP. HCM và là thành viên Ban nghiên cứu của Cố Thủ
tướng Võ Văn Kiệt đã được chia sẻ lên mạng. Trong đó tác giả đề nghị
Đảng và Nhà nước: Thay kinh tế thị trường định hướng XHCN bằng “Kinh tế
thị trường hiện đại” – đỉnh cao của sản xuất hàng hóa nhiều thành phần
vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước vốn đã được
chọn ngay từ đầu đổi mới.
Bỏ
quy định “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”. Mô hình kinh tế tổng
quát cần được thể hiện trong Hiến pháp sửa đổi với những đặc trưng khái
quát bao gồm: (1) Kinh tế thị trường hiện đại; (2) Đa dạng hóa sở hữu,
thành phần kinh tế và loại hình doanh nghiệp; (3) Không coi công hữu là
nền tảng, kinh tế nhà nước là chủ đạo, mà chỉ cần xác định đúng mức vai
trò quản lý của nhà nước pháp quyền đối với nền kinh tế thị trường Việt
Nam.”
Đó
là góp ý, là phản biện của giới trí thức, nhưng kết quả khi Nghị quyết
11 ra đời, nó đã cho thấy – không góp ý nào được thừa nhận. Tính sơ cứng
và một chiều về XHCN vẫn được giữ lấy nhằm “giữ gìn bản sắc quá độ
CNXH” trong một nhà nước.
Nhưng
thực tiễn lại khác, thực tiễn lại yêu cầu loại bỏ nó để hội nhập. Và
mới đây, Chính quyền Việt Nam tiếp tục lên tiếng “đề nghị” (thực ra là
cầu xin thì đúng hơn), Mỹ sớm công nhận nền kinh tế thị trường của Việt
Nam, nhân chuyến thăm Mỹ của đoàn Đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam do Ủy
viên Ban Chấp hành TƯ Đảng, Trưởng Ban Đối ngoại TƯ Hoàng Bình Quân dẫn
đầu (10/9-13/9).
Có đâu mà công nhận, làm sao để công nhận khi Nghị quyết 11 chặn ngay cổ họng của sự phát triển.
Thế
mới biết Nghị quyết hay những tham luận liên quan gần đây nhất không
cần đọc cũng hiểu nó diễn giải như thế nào. Bởi đó là thói quen, là sự
hình thành ý thức một cách bảo thủ nhất, độc quyền tư duy ngắn hạn nhất
đến từ những người đứng đầu Đảng, Nhà nước Việt Nam.
Nếu
trong một vụ án mang tên “thói quen tiêu diệt sáng tạo và phát triển”,
thì bị cáo chắc chắn là ông TBT Nguyễn Phú Trọng và những “đồng chí” của
ông.
Ông
Vũ Đức Đam sẽ vừa đóng vai bị cáo, vừa đóng vai thẩm phán. Vì ông vừa
kêu gọi chấm dứt thói quen, vừa có thói quen trích dẫn những thói quen
thủ cựu mà ông cho là đúng đắn.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét