Công trình có nguồn đóng góp tài chính gây tranh cãi: Trường tiểu học Lũng Luông ở tỉnh Thái Nguyên (Ảnh: Son Vu - Youtube.com
Mấy ngày qua, đã có nhiều tranh
cãi liên quan đến việc một dự án xây trường tiểu học tại Lũng Luông (Thái
Nguyên) của Quỹ Trò Nghèo Vùng Cao, thuộc dự án từ thiện nổi tiếng Cơm Có Thịt,
có nhận đóng góp tài chính lớn từ một quỹ từ thiện khác, Quỹ Phượng Hoàng. Dự án Cơm Có Thịt là một dự án từ
thiện uy tín, được sáng lập bởi nhà báo Trần Đăng Tuấn, và có sự tham gia giúp
đỡ của nhà Toán học Ngô Bảo Châu.
Nguyên nhân của tranh cãi là do
Quỹ Phượng Hoàng được sáng lập và điều hành bởi bà Nguyễn Thanh Phượng và ông
Henry Nguyễn Bảo Hoàng, chồng bà Phượng.
Bà Phượng là con gái của cựu Thủ
tướng Nguyễn Tấn Dũng, người vừa chấm dứt nhiệm kỳ của mình năm ngoái. Ông Dũng
để lại nhiều di sản chính trị, kinh tế đầy tranh cãi.
Đã có nhiều cáo buộc được đưa ra
về hành vi tham nhũng của ông Dũng trong nhiệm kỳ của mình. Và tài sản giàu có
của các thành viên gia đình ông Dũng, bao gồm bà Nguyễn Thanh Phượng, được cho
là đã đến từ các của cải do tham nhũng mà có.
Vì thế, theo nhiều người quan
sát, việc dự án Cơm Có Thịt nhận tiền “nhuốm mùi” tham nhũng từ phía bà Phượng
là không hay ho, và còn gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của dự án này.
“Cuồng” chủ nghĩa lý lịch?
Đáp lại các ý kiến phê phán là
các ý kiến phê phán… các phê phán.
Một số ý kiến này cho là, những
người phản đối đóng góp từ thiện của Quỹ Phượng Hoàng chỉ vì người sáng lập và
điều hành quỹ đó là con gái của một vị cựu thủ tướng bị cáo buộc tham nhũng
đang mắc vào chính thứ chủ nghĩa lý lịch cay nghiệt của những người cộng sản.
Thứ chủ nghĩa lý lịch đó tôn gốc
gác gia đình, công tội của ông bà, bố mẹ lên trên hết, thay vì nhìn vào tư lịch
và chính năng lực cá nhân của mỗi con người – vốn là các tiêu chuẩn đánh giá
con người thông thường.
Vì thế, khi bị đánh giá bằng chủ
nghĩa lý lịch, một người không còn được xem là anh A hay chị B, mà thay vào đó,
là con ông C hay con cháu nhà D.
Theo đó, nếu ông C hay nhà D chẳng
may đã làm gì nên tội, đã đứng lộn bên hay đã chọn sai phần lịch sử, thì anh A
hay chị B sẽ mang cái tội, cái sai của cha ông mình đến suốt đời.
Ngược lại, nếu ông C hay nhà D
may mắn thuộc về “bên thắng cuộc”, thì số anh A chị B lên hương lên hoa mãn kiếp,
hay ít ra, cho đến khi có một “bên thắng cuộc” mới.
Nhiều người đặt câu hỏi đầy Phật
tính: tại sao một số người phản đối chính quyền cộng sản lại quay qua dùng
chính chủ nghĩa lý lịch của chính quyền đó để xét đoán những cá nhân của chính
quyền đó?
Một số người khác, sử dụng lối tư
duy Đặng Tiểu Bình, “mèo đen mèo trắng gì cũng được, miễn là bắt được chuột”,
thì nhún vai: tiền “nhuốm mùi” tham nhũng thì đã sao? Miễn là được dùng vào việc
tốt, xây được trường học cho trẻ em nghèo miền cao thiếu thốn bộn bề thì không
quan trọng tiền của Quỹ Phượng Hoàng, của bà Phượng là từ nguồn nào.
Sâu xa hơn, “kỳ thị giới tính”?
Cả những người phản đối lẫn những
người ủng hộ phần đóng góp của bà Phượng nói trên đều có thể đang mang một tâm
lý “kỳ thị giới tính” đáng hổ thẹn.
Tâm lý “kỳ thị giới tính” đó có lẽ
thể hiện rõ nhất qua một quy trình tư duy giả sử thế này:
Một người phụ nữ kinh doanh có tiền
để đóng góp từ thiện thông qua một quỹ từ thiện do bà cùng chồng sáng lập và điều
hành.
Tiền từ thiện đó như thế chắc chắn
không thể do bà ta hoàn toàn tự mình quyên góp từ các nơi khác, hay tự mình
kinh doanh lương thiện mà có.
Tiền đó phải là tiền bà ta tích
cóp trực tiếp từ những nguồn tham nhũng của người cha, từng một thời “lũng đoạn”
đất nước.
Hoặc, tiền đó phải là tiền bà ta
rút từ của cải của người chồng (tiện thay, là một tay tư bản, con cháu chế độ
Sài Gòn cũ).
Hoặc, tiền đó phải là tiền từ
kinh doanh mà có. Nhưng, bà ta đã kiếm được tiền này dựa nhiều vào thanh thế và
mạng lưới “ảnh hưởng” của người cha tham nhũng.
Cũng có thể, cả ba khả năng nói
trên đều có thật.
Túm cái quần lại, bất kỳ một người
phụ nữ Việt Nam nào cũng sẽ không bao giờ thoát ra khỏi cái bóng của người cha,
hay người chồng của mình.
Mọi việc làm của bà ta, từ lần đầu
tiên tự mua băng vệ sinh cho đến lần cuối cùng cầm tay đứa cháu ngoại, đều phải
bị xét đoán theo hướng: bà ta đã vô tư “được” hưởng hay đã khôn ngoan lợi dụng
các lợi thế sẵn có từ người chồng, người cha bà ta như thế nào.
Một người phụ nữ Việt Nam, “đẹp đẽ”
và “yếu mềm”, không bao giờ là một cá nhân đủ tự lập, đủ tự do để có thể được
đánh giá riêng biệt, không dính dáng gì đến người cha, người chồng của bà ta.
Một lối tư duy mang màu sắc “kỳ
thị giới tính” như trên, không giúp ích nhiều cho các cuộc đấu tranh chống tham
nhũng cho một chính phủ minh bạch tại Việt Nam.
Tất cả những ai, dù chống đối hay
ủng hộ đóng góp từ thiện của bà Phượng, mà lỡ dựa vào một lối tư duy giống như
thế, thì rất cần tự xem xét lại suy nghĩ của bản thân.
Truy xét cá nhân tham nhũng, đừng
chỉ truy xét họ tộc
Bài xã luận 4 xu, theo đóm ăn
tàn, thêm dừa vào lẩu này không có ý định bao biện hay bao che cho bà Phượng,
hay ông Dũng.
Ông Dũng phải bị truy xét đến
cùng về những cáo buộc tham nhũng chống lại ông ấy.
Bà Phượng, như một cá nhân kinh
doanh làm từ thiện, và Quỹ Phượng Hoàng của bà phải bị truy xét đến cùng nếu có
các dấu hiệu rõ rệt cho thấy quỹ đó dùng các nguồn tiền “bẩn”, đến từ hành vi
tham nhũng dưới bất kỳ hình thức nào của cha bà ta hay của chính bà ta, để đóng
góp cho dự án Cơm Có Thịt.
Vấn đề ở đây là, các cáo buộc
tham nhũng, “tiền bẩn” chống lại cha con nhà ông Dũng không đến từ một cơ quan
danh chính ngôn thuận có thẩm quyền và năng lực để điều tra chi tiết về các cáo
buộc này.
“Tham nhũng”, từ lâu nay, đã thường
bị lợi dụng làm cái mác để các phe phái quyền lực tại Việt Nam dùng nó nhục mạ
và “dìm hàng” lẫn nhau.
Trong khi đó, việc xây dựng các
cơ chế hiệu quả và luật pháp “sát sườn” chống tham nhũng vẫn đang là một công
tác mà cả nước trên dưới đều… loay hoay.
Việt Nam, cho đến nay, vẫn chưa
có các quy định cụ thể và nghiêm khắc về việc minh bạch tài sản của cán bộ,
công chức.
Việt Nam, cho đến nay, vẫn chưa
có một cơ quan chống tham nhũng riêng biệt, có chuyên môn và tương đối độc lập
với chính phủ, đồng thời có quyền điều tra truy tố mạnh mẽ “ném bình không sợ vỡ
chuột”.
Thay vì tranh cãi, hay buồn bã dựa
trên những cáo buộc mông lung không ai trưng được bằng chứng đáng tin cậy, có lẽ
người Việt Nam nên tập trung vào một số câu hỏi quan trọng.
Những câu hỏi mà họ có thể trực
tiếp đem đến hỏi các đại biểu quốc hội của mình (danh sách xem tại đây), hay
đem ra chất vấn các quan chức đầu ngành, ví dụ như:
Dự thảo Luật Phòng, chống tham
nhũng (sửa đổi), hiện đang được bàn thảo, vẫn không xem em chồng là “người
thân” thì có thỏa đáng không?
Làm cách nào để các quy định mới
trong Dự luật nói trên về minh bạch tài sản có thể có hiệu quả “ghè” tham nhũng
hơn khi mà “Thực tế 10 năm qua, chúng ta không tìm được bất cứ vụ tham nhũng
nào thông qua việc minh bạch tài sản”?
Tại sao việc đóng góp ý kiến cho
Dự thảo nói trên vẫn bị rắc rối lằng nhằng vì những “văn bản mật” mà chính quyền
cứ úp úp mở mở?
Những vấn đề đang hạn chế khả
năng phòng chống tham nhũng của Việt Nam nói trên, nếu không được tập trung giải
quyết rốt ráo, thì cho đến khi văn minh loài người chế được máy đóng gạch tự động,
năng suất cao, biết bay, và dùng đất không cần nước, e là ở Việt Nam người ta vẫn
còn đang níu chun quần nhau mà cãi: tiền thằng nào bẩn hơn?

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét