
Các ngân hàng tại Việt Nam đang
có sứ mệnh phải cấp tốc đẩy ra thị trường một lượng tiền khổng lồ lên tới 1.2
triệu tỷ đồng trong năm 2017. (Hình: Getty Images)
Núi tiền bất động
Chưa bao giờ ngân hàng nhà nước
và các ngân hàng thương mại ngập tiền như hiện thời! Dư nợ cho vay của khối ngân hàng
vào cuối năm 2016 đã lên tới 6 triệu tỷ đồng, gấp hơn hai lần so với 6-7 năm
trước.
Và “để hoàn thành kế hoạch tăng
trưởng 6.7% như mục tiêu đề ra” cùng “Thủ tướng chính phủ đã giao nhiệm vụ cho
ngân hàng nhà nước cố gắng nâng mức tăng trưởng tín dụng năm 2017 lên 21%-22%
thay vì mức 18% như kế hoạch đề ra từ đầu năm,” khối ngân hàng thương mại đang
mang trên mình sứ mệnh phải cấp tốc đẩy ra thị trường một lượng tiền khổng lồ
lên tới 1.2 triệu tỷ đồng trong năm 2017.
Chính phủ “kiến tạo và hành động”
của Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng theo đó mà như cuống quýt với núi tiền chết
dí trong ngân hàng. Tiền nhiều như quân nguyên mà không lưu thông được thì làm
sao tăng trưởng 6.7% GDP và giữ được thành tích điều hành kinh tế xứng đáng với
vị thế ứng cử viên tổng bí thư cho đại hội giữa nhiệm kỳ vào năm 2018?
Trong 2/3 thời gian của năm 2017,
dù đã “rất cố gắng,” ngân hàng mới chỉ bơm vào thị trường được 500,000 tỷ đồng.
Bất chấp việc phần lớn ngân hàng đã thi hành chính sách khoán doanh số cho vay
tín dụng đối với nhân viên ngân hàng, tìm nhiều cách khuyến mãi để có thể cho
vay được, đa số doanh nghiệp vẫn kiên định lắc đầu. Nhiều người than thở “làm
ăn thời buổi này khó quá!” và “chẳng biết vay để làm gì.”
Rất nhiều doanh nghiệp vẫn còn nhớ
như in “thuốc độc” vào năm 2011. Khi đó, lãi suất cho vay vọt đến 22% –
30%/năm. Trong cơn túng quẫn tiền bạc, không thiếu doanh nghiệp đã phải nhắm mắt
sa chân đi vay ngân hàng để rồi sau đó tự tra đầu mình vào sợi dây thòng lọng.
Không chỉ là cái chết theo nghĩa bóng, mà nghe nói còn có cả những vụ quyên
sinh theo đúng nghĩa đen vì mất khả năng trả món lãi quá lớn cho ngân hàng…
Còn giờ đây, bất chấp việc chính
phủ vẫn quá ảo tưởng trong chỉ tiêu tăng trưởng 6.5 – 6.7% GDP cùng các chỉ số
công nghiệp chỉ tiến không lùi, đa số các ngành hàng sản xuất và tiêu thụ hàng
hóa ở Việt Nam vẫn nằm nguyên trạng trong năm thứ 9 suy thoái liên tiếp, tính từ
năm 2008. Số doanh nghiệp thành lập mới được Tổng Cục Thống Kê báo cáo tăng, nhưng
số doanh nghiệp phá sản hoặc phải tạm ngừng hoạt động cũng tăng không kém.
Chưa kể đến việc ngân hàng, dù đã
tồn một đống tiền trong những năm qua, nhưng lại khăng khăng không chịu giảm
lãi suất cho vay, trong lúc cố ép lãi suất tiền gửi xuống thấp thấp để hưởng
chênh lệch tối ưu đến 5-6%, cao hơn hẳn mức chênh lệch bình quân chỉ 2% trên thế
giới. Cái tư duy cực kỳ ích kỷ theo kiểu sống chết mặc bay như thế của ngân
hàng đang khiến tất cả đều có nguy cơ chết chùm: cả doanh nghiệp lẫn ngân hàng.
Một trong những luồng vốn được
xem là nhạy cảm nhất đối với hoạt động sản xuất là kiều hối từ nước ngoài chuyển
về Việt Nam. Vào những năm trước, lượng kiều hối tăng khá mạnh, đỉnh điểm lên tới
$13.5 tỷ vào năm 2015, trong đó khoảng 70% đầu tư vào sản xuất. Tuy nhiên vào
năm 2016, lượng kiều hối về Việt Nam đã đột ngột giảm xuống còn $9 tỷ, và sau 6
tháng đầu năm 2017 còn giảm mạnh hơn nữa. Một doanh nghiệp ở Tây Âu cho biết nếu
cách đây 5 năm, có đến 9 trong số 10 Việt kiều được hỏi đã dùng tiền nhàn rỗi để
chuyển về Việt Nam để đầu tư, thì nay tỉ lệ này này hoàn toàn ngược lại: 9/10
Việt kiều dùng tiền nhàn rỗi để đầu tư ở nước ngoài, thay vì gửi về Việt Nam.
Hiện tượng này đã phản ánh một sự thật: phần lớn sản xuất trong nước kém hiệu
quả và bế tắc đầu ra.
Đầu ra lại càng khốn khổ khi
chính phủ bất thần phi mã một chiến dịch đè đầu dân chúng và doanh nghiệp bằng
đủ mọi sắc thuế mà khiến dân phải nhớ lại thời Pháp thuộc “chúng bòn rút dân ta
đến tận xương tủy.” Ý chí thắt lưng buộc bụng của dân chúng cũng vì thế đang được
“nâng lên một tầm cao mới,” càng khiến sức tiêu thụ và kéo theo sức sản xuất
trì trệ hơn. Thảm thương thay, lòng tham tăng thuế để “bù đắp khó khăn ngân
sách” đang khiến cái khó ló… cái ngu.
Đó cũng là tình thế mà một thủ tướng
bị dư luận xem là “mơ ngủ” với “chính phủ liêm chính, kiến tạo và hành động” của
ông Nguyễn Xuân Phúc đang lâm vào.
In tiền ồ ạt?
Từ giữa năm 2017 đến nay, ông
Phúc đã liên tục đôn đốc Ngân Hàng Nhà Nước và Bộ Tài Chính “tìm cách huy động
vàng và đô la trong dân.” Cùng với nhiều dấu hiệu khác, hiện tượng này càng cho
thấy ngân sách nhà nước đã đến hồi bi kịch. Làm sao để có được ngoại tệ và vàng
dùng cho trả nợ hàng chục tỷ đô la cho nước ngoài và bù đắp nhập siêu đến năm
chục tỷ đô la mỗi năm từ “bạn vàng” Trung Quốc?
Thực ra, Ngân Hàng Nhà Nước đã âm
thầm mua gom từ thị trường tự do được hàng chục tỷ đô la vào năm 2016. Tức cũng
phải tung tiền đồng với giá trị vài trăm ngàn tỷ đồng ra thị trường, kéo theo lạm
phát thực tế và cả lạm phát tâm lý buôn bán tăng vọt.
Trong khi đó, hệ thống ngân hàng
những năm qua lại tràn ứ tiền. Nhưng chẳng có gì đáng tự hào khi đó là tiền đồng
chứ không phải đô la.
Bởi Ngân Hàng Nhà Nước đã thu gom
một phần đáng kể đô la từ ngân hàng, và thay vào đó là ngân hàng phải nhận tiền
đồng từ Ngân Hàng Nhà Nước.
Rồi còn một nguồn cơn khác – rất
có thể mang tính quyết định – mà đã khiến cho hệ thống ngân hàng không cách nào
tránh được tình trạng tràn ứ tiền đồng: in tiền.
Vào năm 2008, tổng dư nợ cho vay
của khối ngân hàng là 2.3 triệu tỷ đồng, nhưng đến cuối năm 2016 đã lên đến hơn
6 triệu tỷ đồng, chưa kể tồn khoảng 1.2 triệu tỷ đồng. Phải chăng một cách
tương ứng, lượng tiền được Ngân Hàng Nhà Nước cho in và bổ sung vào lưu thông
đã có thể vào khoảng 500,000 tỷ đồng mỗi năm, tức phần “lạm phát in tiền” đã
chiếm đến 10 – 15% hàng năm – một tỉ lệ in tiền rất cao so với tỉ lệ in tiền
bình quân của các nước phương Tây?
Tốc độ in tiền bất chấp lạm phát
cũng lý giải việc tại sao trong những năm qua và đặc biệt trong mấy năm gần
đây, giới cán bộ hưu trí lại thường phản ánh nhận được lương hưu với nhiều tờ
tiền có mệnh giá 500,000 đồng, mới cứng và chắc chắn chưa được lưu hành ngoài
thị trường.
Trong trường hợp các ngân hàng
thương mại buộc phải giảm lãi suất cho vay để cung tiền nhanh, thị trường sẽ ngập
tiền. Tuy nhiên, dòng tiền đi vào khu vực nào, có vào sản xuất hay chủ yếu đổ
vào hai khu vực đầu cơ truyền thống là chứng khoán và bất động sản, lại là một
dấu hỏi rất lớn.
Từ đầu năm 2017 đến nay, với 500
ngàn tỉ đồng đã được các ngân hàng thương mại “bung ra,” hiện tượng rất dễ nhận
ra là trong lúc sức sản xuất vẫn ì ạch, hai thị trường chứng khoán và bất động
sản lại ồ ạt dân đầu cơ nhảy vào và vẫn đang tăng nóng – phần nào tái hiện hình
ảnh sốt kinh hoàng của chúng vào năm 2007 và 2009.
Chính vào năm 2017 này, chính phủ
của ông Nguyễn Xuân Phúc cũng có thể sẽ mang một danh nghĩa mới: “kiến tạo lạm
phát.”
Chính sách quyết tâm tăng trưởng
tín dụng 21-22%” sẽ kéo theo lạm phát thực tế và cơn bão giá cả trên thị trường,
cho dù các báo cáo của chính phủ vẫn kiên định “chỉ số lạm phát được kềm giữ dưới
5%.” Lạm phát thực tế vốn đã lên đến vài chục phần trăm hàng năm, sẽ càng có cơ
hội vùi nhân dân xuống hầm đau khổ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét