Việt Nam có 3 miền Bắc – Trung – Nam. Mỗi miền có thể loại
Dân ca riêng biệt, người ta thường nói vắn tắt cho dễ nhớ Bắc Chèo, Trung Chòi,
Nam Vọng cổ. Bài viết nầy, người viết không đá động đến Chèo, Chòi mà chỉ
nói Vọng cổ, vì dòng họ nó đang có nguy cơ bị Cục Nghệ thuật Biểu diễn bức tử,
do sự ra đời bị gọi là không chính danh và thay đổi ca từ.
Nhứt là thời Trịnh – Nguyễn phân tranh, chán nản và bất bình
về việc giành quyền, giành ăn giữa Cung Vua và Phủ Chúa, từng bộ phận dân xuôi
Nam theo đường biển ghé Đồng Nai, Gò Công; xuôi sông Mékong ghé kinh Mang thít
(Cái Thia). Ba cụm cư dân nầy bung ra trên diện rộng, đương đầu với thiên nhiên
khắc nghiệt, khai phá mở mang vùng đất Phương Nam (Nam bộ).
Trong số di dân ấy, có gia đình ông Cao Văn Lầu (Sáu Lầu) định
cư ở tỉnh Bạc Liêu. Ông Lầu kết hôn hơn 3 năm mà vợ không sanh được con, tập tục
phong kiến quả là khắc nghiệt, cha mẹ ông áp dụng “Tam niên vô tự bất thành thê
”, buộc ông trả vợ về cho cha mẹ vợ. Vì thương vợ, ông tìm một gia đình xa nhà
mình gởi vợ. Chồng một nơi, vợ một ngả, vì quá nhớ vợ, đêm vắng canh buồn, ông
mò mẫm sáng tác nhạc và lời bài “Dạ cổ Hoài lang”. Không ngờ, bản nhạc buồn của
một gã nhớ vợ lại đồng cảm với nỗi buồn của khối người tha hương cầu thực.

Đêm buồn vì nhớ vợ, sáng tác nhạc – Ảnh minh họa từ
internet.
“Dạ cổ hoài lang” là
bản tình ca nổi tiếng của cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu (Sáu Lầu) có thể bị cấm vĩnh
viễn trên toàn quốc. Theo Cục Nghệ Thuật Biểu Diễn nói, đại ý: Bất kỳ ai muốn
hát lại, phổ biến tác phẩm nầy phải tìm cho được bản gốc của tác phẩm, với chữ
ký của người quá cố.
Ông Nguyễn Đăng Chương, Cục trưởng Cục Nghệ thuật Biểu diễn
trả lời với báo chí, truyền thông: “Không chỉ Dạ cổ hoài lang, nhiều tác phẩm
khác cũng có thể sẽ bị cấm vĩnh viễn trên toàn quốc cho đến khi tìm được bản gốc”.
Như chúng ta đã biết, “Dạ cổ Hoài lang” là thân sinh, là xuất
phát điểm, là cơ sở cho sự ra đời “Dân ca Nhạc cổ Nam bộ” – còn gọi là “Cổ nhạc
Nam phần”, nó phong phú lắm, có rất nhiều thể loại, bao gồm cả nhạc và lời bài
ca Vọng cổ.
“Cổ nhạc Nam phần” nói chung, nó bắt nguồn từ “Dạ cổ Hoài
lang”, nhưng không dừng ở đó, nó phát triển không ngừng về thể loại và nhạc cụ.
Trong bài viết nầy, người viết chỉ nói đôi điều về tính đặc thù của “Cổ nhạc
Nam phần” nhằm phản biện ý định bức tử “Dạ cổ Hoài lang” của Cục Nghệ thuật Biểu
diễn.
Có người cho rằng “Dân ca Nhạc cổ Nam bộ” là ca Vọng cổ.
Không chỉ thế, Vọng cổ chỉ là vua trong tổng thể ấy. Cũng như thể thao, bóng đá
là vua của những môn thể thao khác. Nhạc điệu Cổ nhạc Nam phần nói chung, Vọng
cổ nói riêng, biểu cảm lên xuống, thăng giảm theo bình, trắc. Ký âm không gọi Đồ,
La, Rê, Mi, Sol… như Tân nhạc mà gọi Hò, Xang, Xê, Cống… như nhạc “Dạ cổ Hoài
lang” (xem ảnh minh họa).
Để cho Soạn giả, Ca sĩ, Nhạc sĩ đủ không gian sử dụng ca từ
và diễn đạt nghệ thuật lột tả chủ đề bài ca, nhạc Vọng cổ gồm 20 câu, qua năm
tháng thăng trầm của miền sông nước nổi trôi, nhạc Vọng cổ từng bước nhân đôi
nhịp (nhịp trường canh): từ nhịp 4 lên 8, từ 8 lên 16, từ 16 lên 32, từ 32 lên
64 và, vào cuối thập niên 60, tăng từ 64 lên 128 nhịp – Nhạc sĩ, Ca sĩ lấy tít
tắc đồng hồ canh nhịp, để “dù có đi đâu, bay nhảy thế nào cũng phải nhớ về gặp
nhau đúng điểm hẹn” – họp tan, tan họp nhịp nhàn thì còn lý thú nào hơn? Bởi vậy,
đờn ca Vọng cổ mới thủ vai ách chủ bài của Dân ca Nam bộ.
Về nhạc cụ, không như nhạc Giao Hưởng, cả dàn nhạc có thể
cùng một loại đàn, nhạc cụ Nhạc cổ Nam phần có nhiều chủng loại, gì thì gì,
chơi đúng điệu, trong dàn đờn phải có xen lẫn tiếng “tơ đồng”- tơ là loại đàn
dây làm bằng sợi tơ se săn như đàn kìm, đồng là loại đàn dây làm bằng kim loại
như đàn Guitaire chẳng hạn.
Nhạc cổ Nam phần khởi đầu chơi với dạng “Đờn ca Tài tử”, người
đàn, người ca mặc thường phục ngồi thể hiện, không cần ra bộ, miễn phí cho người
nghe; dần dần chuyển nó thành tuồng Cải lương – khi ca khi nói có bộ tịch,
trang phục theo nhân vật mình thủ vai, diễn ở rạp, thu phí (thương mại hóa).
Có người còn chưa phân biệt ca với hát – Gọi ca Vọng cổ chớ
không ai gọi hát Vọng cổ – Tân nhạc mới gọi hát. Khi soạn giả Viễn Châu sáng tạo,
sáng tác “Tân Cổ giao duyên” – có Tân và Cổ pha lẫn. Trong trường hợp nầy, gọi
ca hay hát gì cũng có thể chấp nhận, bởi đàng nào cũng đúng dù chỉ 50%?
Như đã nói, “Dạ cổ Hoài lang” là thân sinh của “Dân ca Nhạc
cổ Nam phần”. Không như Tân nhạc, Nhạc cổ Nam phần có nhiều thể loại, mỗi loại
có nhạc điệu riêng, được ấn định bất di bất dịch. Lời cho từng loại phải dựa
vào nhạc mà viết ca từ. Bởi vậy, viết lời dầu tài ba như Viễn Châu (Bảy Bá) chẳng
hạn, ông sáng tác trình làng hơn 2.000 lời bài ca Vọng cổ, cũng chỉ được gọi là
“Soạn giả”, vì ông chỉ viết lời chớ nhạc của người ta – Bất cứ thể loại nào, tất
cả đều là của mình mới được gọi là Tác giả?
Về Nhạc cổ Nam phần đến nay đã chào đời hàng trăm thể loại
nhạc, đó là chưa kể 40 bài nhạc của Mộng Dân (Vân?) đã ra đời, được thông dụng,
rất ăn khách thời Việt Nam Cộng hòa. Cố nhạc sĩ Trần Hữu Trang yêu cầu ghép 40
thể nhạc của nầy vào “Dân ca Nhạc cổ Nam phần”. Về lời, nhiều Soạn giả, dựa vào
từng thể loại nhạc viết lời, đến nay đã có hàng ngàn, hàng triệu lời khác nhau
cho các thể loại Nhạc cổ Nam phần. Vì vậy, nếu lấy lý do lời thay đổi (không cố
định) phải dẹp bỏ thì đồng nghĩa với xóa tất Cổ nhạc Nam phần, bao gồm cả Vọng
cổ?!
Những dòng người đi về phương Nam mở cõi, họ chịu lắm khổ nhục
đắng cay, làm được 2 việc đáng ghi nhận: Một là khai phá, tạo dựng được vùng đất
rộng lớn, trù phú đủ đảm bảo cho họ cuộc sống về vật chất. Hai là tao dựng “Dân
ca Nhạc cổ Nam bộ” bảo đảm cho họ cuộc sống về tinh thần – văn hóa.
“Dạ cổ Hoài Lang” là thân sinh của “Dân ca Nhạc cổ Nam bộ”,
nếu xóa Dạ cổ Hoài lang cũng có nghĩa là xóa Dân ca Nhạc cổ Nam bộ – coi như giết
chết linh hồn của cư dân Nam bộ. Đã gọi nó là “Dân ca” thì nó phải trường tồn
song hành với dân tộc, không ai có quyền, có thể xóa chúng. Hơn nữa, tháng
12/2013, UNESCO cũng đã công nhận và liệt “Đờn ca Tài tử Nam bộ” vào danh mục
“Di sản Văn hóa phi vật thể Nhân loại” (Thế giới).
Thấy cần nhắc để nhớ, để cảnh báo, Dân Nam bộ cừ khôi lắm, đừng
hòng đồng hóa họ mà ngược lại, chẳng hạn: Họ chế biến, sử dụng nhiều nhạc cụ nước
ngoài bổ sung ngày càng phong phú cho nhạc cụ Dân ca Nam bộ; Mỹ đưa máy Koler
vào để gắn trên xuồng ghe, theo sông rạch, chở nông sản ra thành, người nông
dân Nam bộ lật ngược chân vịt lại làm máy bơm nước, binh sĩ Mỹ thấy vậy, chẳng
những không phá bỏ, còn khâm phục, khoái chí cười nghã nghiêng…
Họ xem Vùng đất và nếp sống Văn hóa là lẽ/ mạng sống của
mình, thề tử chiến để giữ 2 vốn qúi ấy: Ngoài Nam kỳ khởi nghĩa năm 1940, Khi
Pháp tái chiếm Nam bộ năm 1945, thất thủ ở Sài Gòn, không đợi lịnh TW, họ rút
ra bưng biền tiến hành ngay cuộc Kháng chiến. Sau những trận ác chiến với Tây,
họ ngân nga bài hát “Mùa Thu rồi ngày 23 ta ra đi theo tiêng kêu sơn hà nguy biến…”.
Họ nổi dậy làm cuộc Đồng Khởi năm 1960 chống chế độ “Việt
Nam Cộng hòa”. Họ chống Quốc sách “Cải tạo XHCN”, ép buộc Đảng CSVN phải trở lại
kinh tế thị trường gọi là “Đổi mới”; họ đã và đang nằm dầm ở Hà Nội khiếu kiện
đất đai do công lao của tổ tiên khai phá; bất chấp lịnh dọa ngăn cấm, họ tiếp tục
tổ chức Festival “Đờn ca Tài tử” với qui mô lớn, lần I ở Bạc Liêu, lần II từ 8
đến 12/04/2017 ở Bình Dương và lần III dự kiến ở Cần Thơ. “Đờn ca Tài tử” được
xem là “Báu vật Phương Nam”.
Vì chán lối cai trị theo kiểu Phong kiến, Độc tài, bè phái…,
họ chạy từ Bắc vào Nam – nơi tận cùng của dải đất chữ S. Nếu vượt quá khả năng
tử thủ, bức bách hóa, họ đành phải thí mạng cùi bung ra biển đi tìm vùng đất hứa
khác, nếu người ta không cho nhập tịch thì, thà ăn nhờ ở đậu còn hơn.
Dự định cấm chớ chưa cấm, những gì người viết vừa kể lể trên
chỉ mang tính chất cảnh báo với nhà cầm quyền hãy “liệu cơm gấp mắm”.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét