Là
một quốc gia nhỏ bé, khan hiếm tài nguyên, Singapore luôn nhận thực
không thể dựa vào sức mạnh bản thân để phát triển kinh tế và bảo vệ an
ninh quốc gia. Đây chính là đặc trưng “văn hóa khủng hoảng” nước nhỏ của
Singapre. Và đó chính là nguyên nhân khiến Singapre rất lo sợ cục diện
cân bằng nước lớn ở Biển Đông bị phá vỡ.
Hiện nay, tranh chấp Biển Đông đang dần nguội đi, thái độ của Philippines - nước thúc đẩy đưa vấn đề biển Đông ra tòa án quốc tế, đã có sự chuyển biến mang tính mâu thuẫn, Tổng thống Duterte đã kết thúc chuyến thăm Trung Quốc, bày tỏ rõ ràng việc gác lại tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc, điều này đã khiến vấn đề Biển Đông phát triển theo hướng có lợi cho Trung Quốc. Tại thời điểm này, Singapore lại khiến người ta bất ngờ khi quan tâm sâu sắc vấn đề Biển Đông trong các hội nghị quốc tế. Sau khi có kết quả của Tòa trọng tài phán quyết về vấn đề Biển Đông, trong các nước ASEAN chỉ có Singapore bày tỏ sự công nhận đối với phán quyết của Tòa trọng tài. Trong Hội nghị Trung Quốc-ASEAN diễn ra hồi tháng 9/2016, Singapore vô cùng bất mãn về việc tuyên bố chung không đề cập đến phán quyết của Tòa Trọng tài về vấn đề Biển Đông. Sau đó, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long trong các chuyến thăm Mỹ, Nhật Bản nhiều lần đề cập đến Biển Đông, kêu gọi các nước liên quan tôn trọng phán quyết của Tòa trọng tài. Gần đây, trong Hội nghị thượng đỉnh Phong trào không liên kết diễn ra tại Venezuela, đại diện Singapore gây sức ép để đưa phán quyết của Tòa trọng tài về vấn đề Biển Đông vào tuyên bố hội nghị, đương nhiên bị nhiều nước phản đối. Bài viết từ lôgích Biển Đông của Singapore tiến hành phân tích những khó khăn tâm lý mà Singapore phải đối mặt khi các nước lớn trỗi dậy và Trung-Mỹ đọ sức, tiếp đó giải mã những ẩn ý liên tục phát ra của Singapore trong vấn đề Biển Đông.
I/ Ý thức khủng hoảng nước nhỏ của Singapore
Chủ nghĩa hiện thực của quan hệ quốc
tế nhấn mạnh chính trị quyền lực, cho rằng hệ thống quốc tế ở trong
trạng thái vô chính phủ và quốc gia là chủ thể vận hành chủ yếu của hệ
thống quốc tế, mục tiêu chính của quốc gia là duy trì quyền lực và an
ninh, mục tiêu ngoại giao phải được xác định dựa trên lợi ích quốc gia,
và đủ sức mạnh để hỗ trợ. “Quyền lực” là khái niệm cốt lõi trong tư
tưởng chính trị của nhà lập quốc Lý Quang Diệu, Lý Quang Diệu nhấn mạnh
cộng đồng quốc tế lấy chính trị quyền lực làm cơ sở, quốc gia mạnh hay
yếu sẽ quyết định khuynh hướng ngoại giao.
Ý thức khủng hoảng nước nhỏ của
Singapore rất mạnh mẽ. Nước nhỏ trong chủ nghĩa hiện thực chính là đất
nước không thể có được an ninh và sinh tồn bằng cách vận dụng sức mạnh
bản thân. Do những khiếm khuyết vốn có như khan hiếm tài nguyên, thiếu
chiều sâu chiến lược, nước nhỏ không thể dựa vào sức mạnh của mình để
thực hiện phát triển kinh tế và an ninh quốc gia, dẫn đến tính yếu ớt
của nước nhỏ. Quốc gia có thực lực yếu kém luôn là vật hy sinh trong các
cuộc tranh bá của các nước lớn. Singapore là một nước nhỏ, từ ngày đầu
tiên ra đời đã có ý thức khủng hoảng nước nhỏ mạnh mẽ. Singapore là một
trong những quốc gia nhỏ nhất thế giới, được coi là “chấm nhỏ đỏ” trên
bản đồ. Nhìn vào diện tích lãnh thổ, Singapore được hợp thành từ đảo
chính và hơn 60 hòn đảo nhỏ lân cận, diện tích toàn quốc chỉ 719,1 km²,
dân số 5,533 triệu người, mật độ dân số đến 7.697 người/km². Bốn bề là biển, nguồn
nước ngọt thiếu hụt nghiêm trọng, lượng nước ngọt trên bình quân đầu
người đứng áp chót thế giới. Singapore thuộc khu vực châu Á-Thái Bình
Dương, khu vực này ngoài các nước lớn như Trung Quốc, Ấn Độ… , các nước
như Hàn Quốc, Nhật Bản cũng cũng thường xuyên xuất hiện, thế lực Mỹ cũng
nhúng tay vào. Các nước láng giềng Indonesia, Malaysia là nước lớn của
khu vực Đông Nam Á, cũng là đất nước Hồi giáo, có mô hình phát triển
kinh tế cũng như thể chế chính trị, tôn giáo và chủng tộc không giống
với Singapore, hơn nữa trong lịch sử Singapore có quan hệ không thân
thiện lắm với hai nước này. Ở trong khu vực điểm nóng như vậy, Singapore
có “cảm giác bị bao vây” sâu sắc.
Khởi nguồn ý thức khủng hoảng nước
nhỏ của Singapore. Con đường xây dựng đất nước không được bằng phẳng
khiến Singapore cảm nhận sâu sắc sự yếu ớt của mình, đồng thời nảy sinh
một cách bản năng ý thức khủng hoảng nước nhỏ. Trong thế kỷ 20,
Singapore sau khi thoát khỏi sự cai trị của chính quốc, đã từng coi việc
hợp nhất với Malaysia là con dường duy nhất để độc lập. Nhưng cuối cùng
do mâu thuẫn chủng tộc, tranh giành quyền lực và xung đột tính cách của
các nhà lãnh đạo, Singapore buộc phải ra khỏi liên bang Malaysia.
Singapore không thể không dựa vào tài nguyên ít ỏi để nuôi dưỡng phần
lớn dân số thời điểm đó, bắt đầu từ ngày đầu tiên độc lập đã đối diện
với thử thách sinh tồn, Lý Quang Diệu không thể kiềm chế những giọt nước
mắt trước truyền thông. Quá trình sáp nhập và tách khỏi Malaysia khiến
Singapore có cảm giác bị bao vây và không an toàn. Điều kiện sinh tồn
kém, con đường xây dựng đất nước gian nan, khiến cho Singapore nảy sinh
cảm giác khủng hoảng mạnh mẽ, quan tâm đến vấn đề sinh tồn, luôn lo lắng
về các mối đe dọa. Bóng đen nhận thức về khủng hoảng nước nhỏ của
Singapore bao trùm lên các nhà lãnh đạo của Singapore, và phát triển
thành một kiểu văn hóa chiến lược. Tất cả chính trị, kinh tế, ngoại giao
của Singapore đều dựa trên “văn hóa khủng hoảng” này.
Lo lắng bởi “vấn đề Biển Đông” gây
nên sự phân hóa ASEAN. Singapore cho rằng dựa vào sức mạnh bản thân khó
mà đảm bảo an ninh quốc gia, chỉ có thể tìm kiếm an ninh tập thể. Cựu
Thủ tướng Ngô Tác Đống so sánh Singapore với một con cá nhỏ, cá nhỏ muốn
sống phải đi cùng các con cá khác, hòa mình vào trong đàn cá, dựa vào
sự kết thành đàn để tự bảo vệ mình. Chiến lược “đàn cá” trở thành một
phần quan trọng trong chiến lược an ninh của Singapore. Dưới sự chỉ đạo
của lý luận này, Singapore là một trong những nước đầu tiên không ngừng
thúc đẩy hợp tác kinh tế và chính trị các nước ASEAN, đồng thời mở rộng
lĩnh vực hợp tác đến an ninh khu vực. ASEAN đem đến sân chơi giao lưu
kết nối cho các nhà lãnh đạo các nước Đông Nam Á, phát huy vai trò to
lớn trong việc duy trì ổn định khu vực. Phát triển đến nay, sự gắn kết
của các nước ASEAN không ngừng tăng lên, trở thành một lực lượng quan
trọng của khu vực châu Á-Thái Bình Dương. ASEAN đã xây dựng cơ chế đối
thoại với các nước lớn ngoài khu vực như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ,
tầm ảnh hưởng không ngừng mở rộng. Đồng thời, ASEAN cũng đem đến một nền
tảng ngoại giao vô cùng tốt cho Singapore. Tư cách thành viên của ASEAN
khiến Singapore có quyền phát ngôn lớn hơn trong các công việc quốc tế.
Lý Hiển Long nói: “Khi Singapore và các nước ASEAN khác trở thành một
tập thể, bất cứ nước lớn nào đều sẽ có phần kiêng nể, nhưng khi
Singapore không có sự chống đỡ của ASEAN, có thể bị các nước lớn xem
nhẹ”. Bộ trưởng Ngoại giao Singapore George Yong-Boon Yeo cũng nói rằng:
“Chúng tôi đặt ASEAN ở vị trí quan trọng, Singapore là trung tâm của
ASEAN, đó là lý do vì sao lợi ích của ASEAN và lợi ích của Singapore
hoàn toàn giống nhau”. Đối với Singapore, chiến lược sinh tồn, an ninh
và kinh tế của nước này gắn liền với chiến lược của ASEAN. Về vấn đề
Biển Đông, nội bộ ASEAN tồn tại bất đồng, không thể thống nhất lập
trường trong vấn đề Biển Đông. Lý Hiển Long nói: “Nếu ASEAN đến việc
ngay trước cửa nhà còn không xử lý được, sau này sẽ không còn ai xem
trọng ASEAN nữa”. Tháng 4/2016, Trung Quốc tuyên bố Brunei, Lào,
Campuchia đạt được nhận thức chung trong cách giải quyết tranh chấp lãnh
thổ Biển Đông, tức là do riêng các nước tuyên bố chủ quyền đàm phán
giải quyết, chứ không phải toàn thể ASEAN tham gia. Cựu quan chức Ngoại
giao Singapore cho rằng hành động này là muốn chia rẽ ASEAN, và nói
Trung Quốc can thiệp vào nội chính ASEAN, gây áp lực cho các nước
ASEAN.
II/ Singapore lo sợ cục diện cân bằng nước lớn bị phá vỡ
Trải qua nhiều năm, chiến lược an
ninh của Singapore đã xác định lấy ASEAN làm nền tảng, thông qua “lấy
nội đối ngoại”, lợi dụng ASEAN để tranh thủ càng nhiều lợi ích khu vực,
lại thông qua thúc đẩy “cân bằng nước lớn” đế “lấy ngoại đối nội”, lợi
dụng sự tranh giành giữa các nước lớn để có được hòa bình và ổn định khu
vực. Cân bằng nước lớn trở thành một khâu không thể thiếu trong chiến
lược an ninh của Singapore, nước này rất lo sợ Trung Quốc mở rộng thế
lực ở Biển Đông sẽ phá vỡ cục diện cân bằng.
Chiến lược “ngoại giao cân bằng nước
lớn” của Singapore là không gạt bỏ sự hiện diện và ảnh hưởng của nước
lớn tại Đông Nam Á, chủ động cùng với những nước này phát triển quan hệ
về các mặt chính trị, kinh tế và an ninh, đồng thời lợi dụng ưu thế các
nước lớn và mâu thuẫn giữa các nước này để thực hiện cân bằng thế lực
nước lớn tại Đông Nam Á, ngăn chặn bất cứ thế lực của nước lớn nào quá
mạnh để bảo vệ ổn định và an ninh khu vực. Lý Quang Diệu bày tỏ: “Nếu
khu vực Đông Nam Á hình thành cục diện đa cực, năng lực ngăn chặn sức ép
từ các nước lớn của chúng ta sẽ càng mạnh hơn. Trong tình hình tồn tại
cùng lúc nhiều nước lớn, vai trò của mỗi nước lớn sẽ bị giảm đi, hơn nữa
bằng cách khéo léo lợi dụng vai trò của các nước lớn, các nước nhỏ có
thể tự do vận hành một cách tối đa”. Từ góc độ hiện thực của quan hệ
quốc tế, Singapore thừa nhận ảnh hưởng của thế lực nước lớn tại Đông Nam
Á, mà giữa các nước lớn tồn tại sự cạnh tranh, cho rằng sự tồn tại của
thế lực nước lớn chưa chắc có hại. Sức ảnh hưởng của nước lớn đối với
cộng đồng quốc tế rất lớn, trong sự phát triển quan hệ quốc tế, nước lớn
đóng vai trò không thể thiếu. Kennedy từng nói: “Chỉ cần nước lớn là
chủ thể hành vi chính, kết cấu của chính trị quốc tế sẽ được xác định
theo nó”. Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Lý Quang Diệu từng dự đoán:
“Suy cho cùng, vận mệnh thế giới sẽ được quyết định bởi cường quyền và
việc cường quyền có vận dụng sức mạnh của mình hay không. Thế lực của
Mỹ, Liên Xô và Trung Quốc sau này, cũng như sự kiểm soát của những nước
này đối với bản thân và các nước đồng minh sẽ quyết định tình hình hòa
bình và cạnh tranh thế lực. Chúng ta cần phải nhận thức rằng vận mệnh
của Đông Nam Á sẽ không phải do người Đông Nam Á tự quyết định”.
Singapore xuất phát từ tình thế của mình, tranh thủ sự can dự tích cực
của nhiều nước lớn vào Singapore và Đông Nam Á để có được viện trợ kinh
tế và sự hỗ trợ đa phương về chính trị, nhưng không kết đồng minh, tránh
gánh vác nghĩa vụ quân sự và bị cuốn vào xung đột nước lớn. Đồng thời
cố gắng tìm kiếm sự cân bằng thế lực giữa các nước lớn, ngăn chặn một
thế lực nước lớn nào đó trong khu vực quá lớn mạnh, bởi nếu mất cân
bằng, sẽ có thể dẫn đến sự mất ổn định. Tommy Kok, cựu Đại sứ đặc mệnh
toàn quyền của Singapore tại Liên Hợp Quốc nói: “Không loại trừ sự can
thiệp của nước lớn vào các công việc của khu vực, mà cần phải cân bằng
sức ảnh hưởng của những nước này, đồng thời khiến cho những nước này
đóng góp vào việc bảo vệ ổn định và phồn vinh của Đông Nam Á”.
Để bảo đảm lợi ích và an ninh của
Singapore cũng như khu vực Đông Nam Á, Singapore khuyến khích các nước
ngoài khu vực tham gia Diễn đàn khu vực ASEAN, cho phép nước khác mở căn
cứ quân sự lâu dài tại Singapore. Giai đoạn mới độc lập, Singapore để
lực lượng của Mỹ vào bù đắp khoảng trống quyền lợi tạo thành do Anh rút
quân. Trong khái niệm ngoại giao của Lý Quang Diệu, phát triển quan hệ
ngoại giao với Mỹ, Nhật Bản là mấu chốt trong việc thực hiện ngoại giao
cân bằng nước lớn của Singapore. Nhưng ông không mong muốn thế lực Mỹ bá
quyền độc tài ở Đông Nam Á. Một Lý Quang Diệu giỏi về quyền mưu ý thức
rõ được rằng cùng với việc thế lực Mỹ không ngừng mở rộng, khu vực Đông
Nam Á cuối cùng sẽ rơi vào cảnh phụ thuộc Mỹ. Để bảo vệ ổn định khu vực
Đông Nam Á, thực hiện phát triển tự do của Singapore tại khu vực này,
khu vực Đông Nam Á cần phải có sự tồn tại của một thế lực lớn mạnh.
Thông qua sự cạnh tranh lẫn nhau giữa hai dòng thế lực để hình thành sự
cân bằng lực lượng, nước nhỏ có thể giành được không gian quốc tế của
mình trong sự cân bằng giữa các nước lớn, từ đó tránh việc nghe theo một
nước mạnh nào đó cuối cùng dẫn đến có hại cho cục diện vốn bất lợi của
an ninh và chủ quyền quốc gia. Thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Liên Xô với
thực lực kinh tế và quân sự lớn mạnh trở thành lựa chọn tốt nhất để cân
bằng lực lượng Mỹ-Nhật, cũng là một mắt xích quan trọng trong việc thực
hiện ngoại giao cân bằng nước lớn của Singapore. Nếu không có sự can dự
của thế lực Liên Xô, cả khu vực Đông Nam Á sẽ rơi vào trạng thái mất cân
bằng, ngoại giao cân bằng nước lớn của Singapore sẽ mất đi ý nghĩa
thiết thực. Vì vậy Singapore chủ động thân với Liên Xô, Liên Xô vốn có ý
đồ mở rộng đối với Đông Nam Á và Ấn Độ Dương cũng tỏ ra có hứng thú với
việc thực hiện tốt quan hệ hai nước. Tháng 6/1968, Singapore và Liên Xô
chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, hai bên trao đổi đại sứ. Liên
Xô xây dựng tại Singapore Đại sứ quán Liên Xô to nhất châu Á, điều này
cho thấy rõ quan hệ hai nước không ở mức thông thường. Đồng thời, Lý
Quang Diệu cũng chú ý đến Trung Quốc, cho rằng thế giới không có sự tham
gia của Trung Quốc thì không hoàn chỉnh. Tháng 5/1969, khi Lý Quang
Diệu có chuyến thăm Mỹ và hội đàm với Nixon, kiến nghị Nixon nhanh chóng
điều chỉnh chính sách đối với Trung Quốc, chú ý đến sức mạnh của Trung
Quốc hơn. “Trung Quốc càng lớn mạnh, càng có lợi cho việc cân bằng thế
lực giữa 3 nước lớn Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc, đó sẽ là cục diện càng an
toàn đối với thế giới và Singapore”. Sau khi đế quốc Liên Xô sụp đổ,
Singapore có phần e ngại sức mạnh Trung Quốc. Lý Quang Diệu từng bày tỏ:
“Sức mạnh của Trung Quốc khiến cho các nước châu Á khác bao gồm cả Nhật
Bản và Ấn Độ trong 20 năm tới không thể so bì, chúng ta cần Mỹ để cân
bằng Trung Quốc”. Do đó trong chuyến thăm Mỹ năm 2009, Lý Quang Diệu kêu
gọi Mỹ tích cực tham gia các công việc của Đông Nam Á để hình thành thế
cân bằng với Trung Quốc, đồng thời nhắc nhở các nước láng giềng châu Á
cần phải đề cao cảnh giác đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Theo quan
điểm của Lý Quang Diệu: “Nếu Mỹ hoàn toàn rút quân ra khỏi bản đồ Đông
Nam Á, và Trung Quốc trở thành cường quốc chủ đạo duy nhất, như vậy tình
hình chắc chắn sẽ trở nên càng nghiêm trọng, bởi vì nếu lỡ có lỗi lầm
nhỏ chọc giận Trung Quốc, họ không cần phát động tấn công xâm lược cũng
có thể đối phó được”.
Có sự cân bằng nước lớn mang tính
định hướng. Lâu nay Singapore đều tự đặt mình vào thế trung lập. Trên
thực tế, cân bằng nước lớn của Singapore mang tính chọn lọc và phân cấp,
là cân bằng lấy Mỹ làm trung tâm. Bảo vệ an ninh quốc gia, phát triển
kinh tế nhà nước là mục tiêu cuối cùng của Singapore. Có thể gạt bỏ được
mối lo an ninh của Singapore, mang lại sự thịnh vượng về kinh tế chắc
chắn là mục tiêu cao nhất trong hệ thống cân bằng nước lớn của
Singapore, và Mỹ chính là một nước lớn như vậy. Mỹ là siêu cường duy
nhất, nước chế định chính của trật tự thế giới và thống trị thế giới, có
năng lực tấn công quân sự toàn cầu mà không nước nào có thể so bì, tổng
lượng kinh tế vững chắc ở ngôi vị đầu bảng. Lý Quang Diệu hoàn toàn tin
tưởng thực lực của Mỹ: “Chỉ cần thế giới tiếp tục lấy kinh tế làm chủ
đạo, chỉ cần Mỹ vẫn có thể tiếp tục giữ được vị trí hàng đầu trong lĩnh
vực đổi mới khoa học kỹ thuật, như vậy kể cả EU hay Nhật Bản, Trung
Quốc, trong 10 năm tới không có nước nào có thể thay thế vai trò của
Mỹ”. Mỹ cũng cần có “điểm tựa” tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Singapore có vị trí địa lý mang tính chiến lược toàn cầu, lại là “quân
sư” của ASEAN, có thể giúp Mỹ mở rộng tầm ảnh hưởng khu vực tại Đông Nam
Á. Singapore dựa vào đó để ràng buộc lợi ích của mình với lợi ích của
Mỹ ở Đông Nam Á, từ đó mưu cầu tối đa hóa lợi ích. Tuy Singapore cũng
từng dẫn dắt Liên Xô, Trung Quốc cân bằng sức ảnh hưởng của Mỹ, Nhật
Bản, nhưng chỉ là để tránh lực lượng Mỹ quá mạnh khiến Singapore cảm
thấy “nghẹt thở”. Singapore mong muốn dưới sự chủ đạo của Mỹ để duy trì
sự “ổn định lâu dài” của nước mình. Ngoại giao cân bằng nước lớn của
Singapore luôn xoay quanh Mỹ, Mỹ là trung tâm chuyển động và kéo dài của
ngoại giao cân bằng nước lớn của Singapore. Thực lực đang không ngừng
lớn mạnh của Trung Quốc tại Biển Đông về khách quan đã tạo thành thách
thức cho sự cân bằng nước lớn khu vực Đông Nam Á mà Mỹ chủ đạo, động
chạm đến bố cục cân bằng mà Singapore lâu nay tạo dựng.
III/ Chính sách Biển Đông của Singapore
Chính sách ngoại giao của Singapore
về vấn đề Biển Đông có thể tổng kết như sau: Singapore không phải là
nước tranh chấp, không có đòi hỏi về chủ quyền tại Biển Đông, giữ lập
trường trung lập không nghiêng về bên nào; Singapore quan tâm vấn đề
Biển Đông là vì Singapore phụ thuộc nhiều vào thương mại quốc tế, tự do
hàng hải và tự do hàng không tại Biển Đông liên quan đến lợi ích kinh tế
của nước này; Singapore hy vọng các bên tranh chấp kiềm chế; Singapore
kêu gọi các bên giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ Công ước Liên hợp
quốc về luật biển. Trên thực tế nhìn biểu hiện hành vi của Singapore,
biểu hiện hành vi ngoại giao của nước này trong vấn đề Biển Đông đã dần
xa rời lập trường trung lập, nghiêng sang thân Mỹ kiềm chế Trung Quốc.
Singapore cho rằng địa vị nước lớn và nước nhỏ không ngang nhau, đàm
phán giữa nước nhỏ và nước lớn không thể công bằng. Chỉ có thông qua
luật quốc tế, quyền lợi nước nhỏ mới có thể được bảo đảm.
Trong 5 năm qua, Singapore vừa
giương cao lá cờ “trung lập”, vừa dần hướng về phương Tây. Năm 2011, tàu
tuần tra “Hải tuần 31” của Trung Quốc đến thăm Singapore. Sau đó, Bộ
Ngoại giao Singapore tuyên bố Singapore không có đòi hỏi chủ quyền ở
Biển Đông, nhưng bất cứ vấn đề nào ảnh hưởng đến tự do hàng hải và hàng
không trong vùng biển quốc tế đều liên quan đến lợi ích then chốt của
Singapore. Tuyên bố này được hiểu là Singapore và Trung Quốc “vạch rõ
giới hạn”. Năm 2012, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long cùng với Ngoại
trưởng Sanmugam trong các dịp khác nhau đã bày tỏ rằng Singapore trong
vấn đề Biển Đông luôn giữ lập trường trung lập, không lựa chọn đứng về
bên nào, đề xướng các nước liên quan đến tranh chấp tự giải quyết. Nhưng
cùng năm đó, Bộ Quốc phòng Singapore đồng ý cho Mỹ bố trí 4 tàu chiến
đấu ven biển. Năm 2013, thái độ công khai trong vấn đề Biển Đông của Bộ
Ngoại giao Singapore vẫn là giữ lập trường trung lập, kêu gọi giải quyết
tranh chấp bằng luật quốc tế. Sau đó, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long
đến thăm Mỹ, bày tỏ hoan nghênh Mỹ quay trở lại châu Á-Thái Bình Dương
và chào đón sự ra đời của TPP. Năm 2014, tuyên bố công khai của Bộ Ngoại
giao Singapore đối với vấn đề Biển Đông là: “Singapore quan tâm đến sự
phát triển của tình hình Biển Đông. Kêu gọi các bên kiềm chế, tránh các
hành vi có thể khiến tình hình căng thẳng ở Biển Đông leo thang. Nhắc
nhở các bên tranh chấp xử lý tranh chấp một cách hòa bình trong khuôn
khổ luật quốc tế”. Tháng 3/2015, Bộ trưởng Quốc phòng Singapore trong
một cuộc phỏng vấn công khai đã “mời” Ấn Độ tham gia can thiệp vào vấn
đề Biển Đông, “Ấn Độ là một nước lớn có tầm ảnh hưởng, hy vọng sự hiện
diện và tham gia của nước này ở Biển Đông có thể tăng cường lòng tin và
thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau”. Tháng 8/2015, Ngoại trưởng Singapore
Sanmugam bày tỏ “các nước ngoài khu vực có quyền lên tiếng về vấn đề
Biển Đông”. Cuối năm 2015, Singapore đồng ý cho Mỹ bố trí máy bay săn
ngầm P-8 Poseidon. Từ năm 2016 đến nay, thái độ thân Mỹ kiềm chế Trung
Quốc của Singapore càng rõ rệt. Mặc dù Singapore một dạo nêu chiêu bài
không giữ lập trường trong vấn đề Biển Đông, không “lựa chọn đứng về bên
nào”. Nhưng với các hành vi trên, thái độ thân Mỹ kiềm chế Trung Quốc
đã lộ rõ chân tướng.
Về chính sách đối với Trung Quốc của
Singapore, Singapore luôn thi hành chính sách kinh tế trên hết, tách
rời chính trị với kinh tế trong quan hệ với Trung Quốc. Sau khi độc lập,
Singapore tuyên bố chào đón tất cả bạn bè, hy vọng thông thương với các
nước trên thế giới, trong đó bao gồm Trung Quốc. Đồng thời, Singapore
bày tỏ phải là nước ASEAN cuối cùng chính thức thiết lập quan hệ ngoại
giao với Trung Quốc, tỏ ra vô cùng thận trọng trong việc phát triển quan
hệ chính trị giữa Trung Quốc và Singapore. Sau khi hai nước thiết lập
quan hệ ngoại giao, Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu với nhà lãnh đạo
Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã xây dựng một tình bạn sâu sắc, Trung Quốc
rất xem trọng mô hình phát triển của Singapore. Năm 1985, nhà kinh tế
nổi tiếng, Bộ trưởng Tài chính đầu tiên, Phó Thủ tướng Singapore Ngô
Khánh Thụy sau khi nghỉ hưu đã nhận lời mời đến Trung Quốc, vạch ra kế
hoạch cải cách mở cửa cho Trung Quốc. Thương mại song phương giữa hai
nước phát triển nhanh chóng. Từ 2013 đến nay, Trung Quốc trở thành đối
tác thương mại lớn nhất của Singapore, Singapore cũng là đối tác thương
mại lớn nhất của Trung Quốc trong các nước ASEAN. Trong chiến lược thúc
đẩy “Một vành đai, một con đường”, Singapore cũng phát huy vai trò quan
trọng. Do nhất quán sách lược tách rời chính trị với kinh tế, Singapore
sẽ không vì quan hệ chặt chẽ về kinh tế thương mại mà dễ dàng thay đổi
lập trường trong vấn đề Biển Đông, nhưng quan hệ hai nước chưa đến mức
xấu đi quá nhiều.
Singapore luôn theo đuổi sách lược
“cân bằng nước lớn”, chủ trương xây dựng bố cục cân bằng Mỹ-Trung
Quốc-Nhật Bản-Ấn Độ tại châu Á-Thái Bình Dương. Sách lược cân bằng nước
lớn của Singapore có lợi và cũng có hại đối với Trung Quốc. Khi thế lực
Liên Xô còn lớn mạnh, để kiềm chế sự bành trướng của Liên Xô, Singapore
ra sức cải thiện quan hệ Trung-Mỹ, lập công lớn trong việc xây dựng quan
hệ Trung-Mỹ. Thời kỳ Chiến tranh Lạnh, quan hệ ASEAN với Trung Quốc
lạnh nhạt. Sau Chiến tranh Lạnh, Singapore trở thành “cầu nối” cho quan
hệ qua lại giữa Trung Quốc và ASEAN, để Trung Quốc và ASEAN luôn duy trì
được quan hệ đối thoại, đóng vai trò xây dựng quan trọng trong việc
thúc đẩy phát triển quan hệ Trung Quốc-ASEAN. Nhưng cùng với việc thực
lực Trung Quốc không ngừng tăng lên, Singapore cũng không ngừng điều
chỉnh sách lược, thực hiện kiềm chế Trung Quốc. Lý Quang Diệu từng bày
tỏ: “Trong quan hệ ngoại giao, không có tình bạn cá nhân, chỉ có lợi ích
quốc gia”. Singapore hết sức khuyến khích ASEAN nhất trí trong chính
sách đối với Trung Quốc, “hợp lực” giải quyết vấn đề Biển Đông. Đối với
tranh chấp lãnh thổ Biển Đông, Trung Quốc luôn chủ trương tiến hành thỏa
hiệp song phương với các nước đòi hỏi chủ quyền, phản đối quốc tế hóa
vấn đề Biển Đông, đó là nguyên tắc cơ bản của Trung Quốc trong vấn đề
Biển Đông, đồng thời cũng là ngưỡng giới hạn không thể vượt qua của
Trung Quốc trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Cách làm
khuyến khích các nước ASEAN “thống nhất” và lôi kéo nước lớn ngoài khu
vực của Singapore trên thực tế làm trầm trọng thêm tính phức tạp trong
việc giải quyết vấn đề Biển Đông của Trung Quốc, gây tổn hại cho lợi ích quốc gia của Trung Quốc.
Sự liên hệ mật thiết về ngôn ngữ,
văn hóa, kinh tế thương mại giữa Trung Quốc và Singapore chính là trụ
cột mạnh mẽ cho sự phát triển lâu dài quan hệ hai nước. Xây dựng quan hệ
Trung Quốc-Singapore lành mạnh ổn định là sự bảo đảm cơ bản trong việc
phát triển lòng tin chính trị, hợp tác sâu sắc về kinh tế của hai nước
Trung Quốc và Singapore. Hai nước phải xây dựng quan hệ lành mạnh ổn
định, điều kiện trước tiên là đôi bên không gây tổn hại lợi ích quốc gia
của nhau, đặc biệt là lợi ích cốt lõi của quốc gia. Vấn đề Biển Đông
liên quan đến toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc, là lợi ích cốt lõi của
Trung Quốc. Ngoài ra, Trung Quốc cũng quan tâm đến nỗi “lo ngại” của
Singapore, từ tầm cao chiến lược phát triển hòa bình ổn định khu vực
Đông Nam Á, dùng tình cảm và lý lẽ để Singapore thấu hiểu, đề cao hợp
tác kinh tế Trung Quốc-Singapore, mở rộng phát triển đa phương diện
chính trị và văn hóa Trung Quốc-Singapore, tích cực thúc đẩy quan hệ
Trung Quốc-Singapore đạt được phát triển lành mạnh ổn định.
***
***
Gao Qun Bin,
Nghiên cứu viên Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á, Học viện Quan hệ Quốc
tế PLA. Chen Han Bing, Chủ nhiệm
Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á, Học viện Quan hệ Quốc tế, PLA. Bài viết
được đăng trên First Thinktank (Trung Quốc)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét