Năm nay là năm thứ 43 kể từ khi
chính thể Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ. Kể từ đó cái tên này cũng bị xóa khỏi bản đồ
thế giới. Cùng với sự lăng nhục của bên thắng cuộc, Đảng cộng sản Việt Nam.
Nhưng cũng phải công nhận một điều rằng, dù bên thắng cuộc có nhục mạ như thế
nào, có xúc phạm đến đâu thì những di sản của Việt Nam Cộng Hòa để lại không
bao giờ bị lãng quên.
Những di sản mà cả thế giới thời
đó phải nghiêng mình nể phục. Thủ tướng Lý Quang Diệu đã từng ước rằng mong một
ngày nào đó Singapore sẽ phát triển giống như Sài Gòn, đủ thấy nền kinh tế Miền
nam Việt Nam phát triển như thế nào. Về thể thao, thì Nhật Bản, đất nước hiện
là nền thể thao phát triển bậc nhất châu Á, đặc biệt là bóng đá. Họ đã từng xin
được đá giao hữu với Việt Nam để học hỏi kinh nghiệm. Về giáo dục đó là một nền
giáo dục vượt bậc khi lấy ba yếu tố để hình thành nên con người, đó là Nhân bản
– Khai phóng và Dân tộc. Cho đến nay những con người đã từng học tập dưới chế độ
Việt Nam Cộng Hòa vẫn là những người thanh công trên toàn thế giới. Ví dụ như
người phát minh ra máy ATM là ông Đỗ Đức Cường. Bà Dương Nguyệt Ánh, nhà khoa học
quân sự nổi tiếng, người phát minh ra bom áp nhiệt, làm việc tại bộ quốc phòng
Hoa Kỳ. Người phát minh ra xe lăn điều khiển bằng suy nghĩ Aviator Nguyễn Tấn
Hùng v. v… Còn rất nhiều cái tên khác đã làm rạng danh người Việt. Về văn hóa,
nền văn hóa Việt Nam dưới thời Việt Nam Cộng Hòa cũng rất phát triển, cho đến
bây giờ vẫn còn đó những ca khúc được sáng tác mang đầy tính nhân văn. Khiến
cho bên thắng cuộc cũng phải tỏ ra sợ hãi.
Chỉ chừng đó thôi cũng đủ thấy sự
tiến bộ của Miền Nam Việt Nam dưới thời Việt Nam Cộng Hòa như thế nào. So với
hiện tại thì chế độ Xã hội chủ nghĩa thua kém rất nhiều. Tuy nhiên bên cạnh những
thành công rực rỡ đó thì vẫn tồn tại những sai lầm. Đó là những sai lầm chí mạng
dẫn đến kết cục thất bại sau cùng.
Không đợi đến ngày 30 tháng 4, mọi
người vẫn thường đem sự thất bại của Việt Nam Cộng Hòa ra để mổ xe và phân tích
nguyên nhân. Nguyên nhân được đưa ra vẫn là do bị Mỹ bỏ rơi, địa hình thì bị
vây hãm bởi khối cộng sản, cụ thể là Lào, Miên và họ lấy chiến tranh trên bán đảo
Triều Tiên ra làm ví dụ.
Trên thực tế. Những nguyên nhân
đó không hẳn là sai, nhưng nếu nhìn nhận sâu xa hơn một chút, chúng ta sẽ thấy
đó chỉ là những yếu tố nhỏ dẫn đến sự sụp đổ của VNCH.
Lịch sử của VNCH được chia thành
hai giai đoạn. Đệ nhất cộng hòa và Đệ nhị cộng hòa. Cả 2 thời kì đều đã để lại
những dấu ấn riêng cả về sự thành công lẫn thất bại. Sự sụp đổ sau cùng vào năm
1975 không phải sai lầm của riêng ai mà nó là hệ quả của hàng loạt sai lầm của
hai vị tổng thống đại diện cho hai nền cộng hòa trong 20 năm tồn tại.
Về nền Đệ nhất cộng hòa. Cố tổng
thống Ngô Đình Diệm đã làm rất tốt trong công cuộc tái thiết nền kinh tế do
Pháp kiểm soát gần 100 năm. Các nguồn cung cấp khoáng sản tập trung chủ yếu ở
miền bắc, khoa học kỹ thuật nghèo nàn do Pháp đã rút toàn bộ kỹ sư về nước.
Ngoài ra các lĩnh vực như: cơ sở hạ tầng – giao thông vận tải, văn hóa, giáo dục
v. v… cũng phát triển vượt bậc. Đó cũng chính là thời kỳ vàng son từ 1955 đến
1963 tổng sản phẩm nội địa (GDP) năm 1956 là 11.283, 1958 là 12.714, 1960 là
15.274 và 1963 là 16.422 tính theo đơn vị triệu USD. Những năm về sau thì dần dần
giảm xuống. Nhìn chung TT Ngô Đình Diệm đã đặt được nền móng cho sự độc lập
kinh tế của miền nam Việt Nam, mà từ đó vẫn có thể đứng vững nếu không có sự viện
trợ từ phía Hoa Kỳ. Về quân sự. Ông đã thành công khi triệt phá tối đa chiến lược
“chiến tranh nhân dân” của Cộng sản bắc Việt bằng “ấp chiến lược”. Tuy vậy do
việc quản lý không triệt để khiến cho nạn tham nhũng hoành hành, các viên chức
địa phương ăn bớt phần tiền từ chính phủ rót xuống, bắt dân góp công, góp của để
xây dựng ấp, gây bất mãn và dễ làm tay trong cho cộng sản. Cộng thêm việc công
tác dân vận của ông chưa được tốt khiến cho người dân dễ bị kích động bởi bộ
máy tuyên truyền của cộng sản cho nên ngay sau khi ông bị ám sát, “ấp chiến lược”
cũng bị phá sản. Yếu kém về công tác dân vận cũng là một điểm yếu chết người của
ông, trong khi ông lại muốn xấy dựng một thể chế chính trị tập trung quyền lực
vào tay chính phủ, cụ thể là vào chính gia đình ông. Điều này không những gây bất
mãn trong nhân dân, mà còn tạo ra sự mâu thuẫn với các quan chức cũng như các
tướng lãnh. Thêm nữa, ông không có kinh nghiệm về quân sự, đặc biệt là kinh
nghiệm về kiểm soát quân đội. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Dưới áp lực của
phe cộng sản thế giới, cần phải đưa ra chiến lược chống cộng cụ thể trên chiến
trường, nhưng ông vốn là một nho sĩ, lại có phần độc đoán cho nên mọi quyết định
đều bỏ qua sự góp ý của các tướng. Xin nhắc lại lúc này đang trong thời kỳ chiến
tranh lạnh, hai phe đối đầu rất gay gắt cho nên khó có thể đàm phán hòa bình
như đông Đức và tây Đức được. Mỗi thời đại có một đặc điểm riêng biệt, nếu như
phía miền nam đồng lòng thống nhất trong hòa bình thì liệu phía miền bắc, dưới
sự kiểm soát của Trung Quốc và Liên Xô thì liệu có được hòa bình công chính?
Hay là phía cộng sản phải có một chút lợi ích nào?! Từ đó có thể thấy sự bất
mãn của các tướng lãnh ngày một tăng lên là điều dễ hiểu. Cùng với đó là sự tác
động của Hoa Kỳ, trong khi phía tổng thống Ngô Đình Diệm quá cứng rắn trong việc
đưa quân đội Mỹ vào miền nam, thì từ đó Hoa Kỳ xem Ngô Đình Diệm là cái gai
trong mắt và sau đó thì như chúng ta đã biết.
Đệ nhất cộng hòa sụp đổ là hệ quả
của những sai lầm vô cùng tai hại. Điều đó cho thấy để quản lý một quốc gia
trong thời buổi căng thẳng và bất ổn leo thang là một việc không hề dễ. Cần có
sự tỉnh táo, khôn ngoan và tầm nhìn xa để lèo lái một cách khéo léo.
Tưởng chừng như sự sụp đổ của Đệ
nhất cộng hòa sẽ là bài học đắt giá của nền Đệ nhị cộng hòa, nhưng thực sự thì
người kế nhiệm, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lại bỏ đi những cái hay của Ngô
Đình Diệm. Chính sách ngoại giao mềm mỏng hơn bằng việc bắt tay liên minh quân
sự với Hoa Kỳ. Quân đội được xây dựng hùng hậu thuộc hàng bậc nhất. Nhưng ông
Thiệu lại không xây dựng một nền kinh tế tự chủ như ông Diệm đã từng làm. Miền
nam dưới thời ông Thiệu, kinh tế chủ yếu là nhờ vào sự viện trợ của Hoa Kỳ, dù
cũng có tự chủ ở một số lĩnh vực, nhưng từng đó là chưa đủ để gồng gánh cả một
miền nam đang dốc sức vào cuộc chiến. Vũ khí quân sự cũng được trang bị từ đầu
đến cuối nhờ sự viện trợ của Hoa Kỳ. Điều này cũng đồng nghĩa với việc giao số
phận đất nước cho Hoa Kỳ định đoạt. Và sau năm 1973, Hoa Kỳ rút quân và cắt viện
trợ VNCH khủng hoảng và thua cuộc. Nhưng có lẽ điều khiến VNCH thua cuộc đau đớn
nhất là vì ông Thiệu đã quá chủ quan khi coi thường sức mạnh của quân đội cộng
sản, mặt khác lại quá tin tưởng vào những gì Hoa Kỳ đã ký kết trong hiệp định.
Ông chủ quan là vì trước đây quân cộng sản đã thua tan tác quá nhiều trước
QLVNCH, nhưng thực tại phủ phàng: - “Không quan trọng bạn đã thắng tôi bao
nhiêu trận, điều quan trọng tôi là người chiến thắng cuối cùng”. Chủ quan vì
nghĩ rằng sau cuộc ném bom miền bắc của Hoa Kỳ thì cộng sản không thể nào tái
thiết được quân đội, mà quên mất rằng sau họ vẫn có Liên Xô, Trung Quốc hậu thuẫn.
Sự chủ quan chưa dừng lại ở đó khi ông ra lệnh bỏ Vùng chiến thuật I, khi quân
cộng sản tiến vào miền nam. Trong khi đó vũ khí đạn dược vẫn còn 130 ngàn tấn,
cùng với khí tài quân sự (sau khi bị công sản tịch thu), trị giá trên 5 tỷ USD.
Như vậy không phải là do phía VNCH hết đạn mà là do ông Thiệu ra lệnh rút. Bỏ
vùng chiến thuật I coi như của ngõ tiến lên Tây Nguyên mở toang, mà Tây Nguyên
là vị trí chiến lược của cả vùng Đông Dương chứ không chỉ riêng Việt Nam. Ngày
xưa khi vua Champa là Chế Mân cắt Châu Ô và Châu Lý cho nhà Trần (nay thuộc Thừa
Thiên Huế - Đà Nẵng). Cũng từ đó Vương quốc Champa suy yếu và lụi tàn. Bài học
từ đời xa xưa nay tái hiện một cách rõ ràng nhưng lại diễn biến một cách chống
vánh. Chỉ sau 1 tháng quân cộng sản đã tiến thẳng vào Dinh Độc Lập. Như vậy
chúng ta có thể thấy rõ nguyễn nhân chủ quan đó là do chỉ huy ra lệnh cho quân
đội không đánh, dẫn đến sụp đổ. Nguyễn Văn Thiệu tuy là một tướng lãnh cấp cao,
có kinh nghiệm trận mạc nhưng có lẽ đã quá chú tâm vào việc đấu đá nội bộ mà
xao lãng việc rèn luyện binh thư, dẫn đến sự bại vong. Suy cho cùng ông Thiệu
đã thua ngay từ lúc lên nắm quyền, khi trao số phận miền nam cho người Mỹ. Nếu
cho rằng “vì người Mỹ bỏ rơi miền nam nên miền nam mới thua”. Cũng được, chẳng
sao. Nhưng vì sao chúng ta lại bị họ bỏ rơi trong khi chúng ta có thể không cần
họ? Nước Mỹ thực chất cũng chỉ là một quốc gia, không phải là đấng cứu thế. Việc
họ làm trước sau gì cũng chỉ vì lợi ích quốc gia của họ mà thôi. Trong tình cảnh
lịch sử lúc bấy giờ thì việc nhận viện trợ quân sự của Mỹ cũng là việc nên làm.
Nhưng nếu miền nam dưới thời ông Thiệu vẫn tự lập về kinh tế, tự lực về quân sự
bằng cách trao đổi kỹ thuật với Mỹ, để rồi có thể từ đó phát triển công nghiệp
quân sự thì mọi việc đã khác. Đừng trách người Mỹ vì họ đã bỏ rơi miền nam, hãy
tự trách mình vì đã bỏ rơi chính mình. Ông Ngô Đình Diệm biết tự lực để xây dựng
nền tảng tự lực, tự cường nhưng lại không thuận theo thời thế. Ông Nguyễn Văn
Thiệu thì biết thuân theo thời thế những không biết tự lực, tự cường, cho nên cả
hai nền cộng hòa sụp đổ là điều khó tránh khỏi.
Đó là những sai lầm từ những người
đi trước để chúng ta nhìn vào mà không bước theo vết xe đổ của họ. Chúng ta có
thể nhìn vào cách làm của Hàn Quốc, đến bây giờ cuộc chiến giữa họ với Bắc Hàn
vẫn chưa hoàn toàn chấp dứt, nhưng nếu không còn được sự trợ giúp từ phía Mỹ
thì có lẽ họ vẫn đứng vững trước sự tấn công của Bắc Hàn dù được hậu thuẫn bởi
Trung Quốc. Bởi vì họ đã trải qua thời kỳ rất dài để xây dựng trở thành một quốc
gia hùng mạnh. Cuộc chiến tranh Liên Triều nổ ra, họ biết một mình họ không thể
chống lại khối cộng sản hùng mạnh và họ đã chấp nhận sự can thiệp của người Mỹ.
Nhưng họ biết rằng người Mỹ làm gì cũng vì lợi ích cho quốc gia. Vì vậy họ đã
phải tự phát triển để trở thành đối tác kinh tế lớn của cả thế giới. Để làm gì?
Để một ngày nào đó người Mỹ vì lợi ích quốc gia mà không thể sát cánh bên họ được
nữa thì họ vẫn đứng vững. “Kỳ tích song Hàn” là một minh chứng rõ ràng cho ý
chí tự lực tự cường của họ. Bây giờ họ là một nền kinh tế lớn, cả về thương mại
lẫn quân sự (Năm 2016 Hàn Quốc là nước xuất khẩu vũ khí số một châu Á với 1. 3
tỷ USD). Với tiềm lực như vậy người Mỹ có muốn bỏ rơi họ cũng khó.
Còn về Việt Nam Cộng Hòa? Trước
khi chúng ta là nạn nhân của người Mỹ thì chúng ta đã là nạn nhân của chính
chúng ta. Việc đưa ra những sai lầm không phải là để chê trách hay hạ nhục
chính thể Việt Nam Cộng Hòa, mà là để chúng ta có thể nhìn vào những sai lầm đó
để không phải dẫm vào vết xe đổ của những người đi trước. Đó là bài học đắt giá
cho thế hệ sau này trong việc lèo lái đất nước.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét