Tư Thẳng: "Trước
đây, khi nhắc đến chính quyền Việt Nam
Cộng hoà, mọi người vẫn hay gọi là ngụy quân, ngụy quyền".Thật ra chỉ có
những người cộng sản gọi như thế, đừng vơ đũa cả nắm là "mọi người".
Mọi người là mọi người nào? Lịch sử đất nước cộng sản muốn vo tròn bóp
méo ra sao cũng được...từ lâu.
Thiền Lâm
Thiền Lâm
Việt Nam – Cali Today News – Một
tin tức rất đặc biệt được báo Tuổi Trẻ đăng ngày 18/8/2017: bộ sách
Lịch sử Việt Nam – được thông qua và cấp phép bởi Bộ giáo dục và Đào
tạo, đã “nhìn nhận công lao nhà Mạc cùng chúa Nguyễn và các vương triều
nhà Nguyễn, không gọi chính quyền Việt Nam cộng hoà là ngụy quân, ngụy
quyền như trước, chỉ đích danh quân Trung Quốc xâm lược Việt Nam…”.
PGS. TS Trần
Đức Cường, nguyên viện trưởng Viện sử học, chủ tịch Hội khoa học lịch sử
VN, tổng chủ biên bộ sách Lịch sử VN, đã trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ
với một nội dung đáng chú ý: “Chính quyền Việt Nam cộng hoà là một thực
thể ở miền Nam Việt Nam… Trước đây, khi nhắc đến chính quyền Việt Nam
Cộng hoà, mọi người vẫn hay gọi là ngụy quân, ngụy quyền. Nhưng chúng
tôi từ bỏ không gọi theo cách đó mà gọi là chính quyền Sài Gòn, quân đội
Sài Gòn. Lịch sử phải khách quan, phải viết thế nào để mọi người chấp
nhận”.
Diễn giải của
ông Trần Đức Cường cũng là phát ngôn đầu tiên, hoặc đã có nhưng rất hiếm
hoi, của một quan chức bậc trung về “Chính quyền Việt Nam cộng hoà là
một thực thể ở miền Nam Việt Nam”, dù được báo Tuổi Trẻ cẩn trọng giải
thích là “bên lề buổi giới thiệu sách…”, tức có thể hiểu là phát ngôn
này không phải được phát ra trên diễn đàn chính thức.
Nhưng dù “thực
thể Việt Nam Cộng Hòa” không hoặc chưa phải là phát ngôn hay chủ trương
được chính thức công bố, hiện tượng bộ sách giáo khoa Lịch sử Việt Nam
không còn xem Việt Nam Cộng Hòa là “nguỵ quân ngụy quyền” vẫn là một sự
xác nhận gián tiếp về tính chủ trương chưa được công bố.
Tại sao không phải những năm trước mà đến năm nay – 2017 – đảng mới lấp ló xác nhận gián tiếp về “thực thể Việt Nam Cộng Hòa”?
Sự thật quá
hiển nhiên là giờ đây, tình trạng chính trị và kinh tế của đảng cầm
quyền là khó khăn hơn bao giờ hết. Sự bế tắc gần như toàn diện như thế
đã khiến đang manh nha phát sinh một luồng tư tưởng cùng một số quan
chức buộc phải nghiêng dần theo xu hướng “cải cách”. Trong những “cải
cách” đó, lần đầu tiên từ sau năm 1975 đã bộc lộ tín hiệu có vẻ đôi chút
thực chất về “lấy lòng người Việt hải ngoại”.
Kể cả làm thế
nào để đạt được một thâm ý sống còn hơn hết thảy: cộng đồng người Việt ở
các quốc gia, đặc biệt ở Mỹ, sẽ “để yên” cho nhiều quan chức và thân
nhân quan chức Việt Nam ung dung rửa tiền, mua sắm nhà cửa, kinh doanh
và hưởng thụ cuộc sống ở xứ sở tượng trưng cho lối thoát, nếu tình hình
trong nước “có biến”?
Hiện tượng sách
giáo khoa Lịch sử Việt Nam gián tiếp xác nhận “thực thể Việt Nam Cộng
Hòa” có thể được xem là một sự kiện lịch sử, và có thể là một tiền đề
dẫn đến một giai đoạn “tự chuyển biến” về quan điểm chính trị của đảng,
hay nói chính xác hơn là bắt đầu từ một bộ phận nào đó của đảng cầm
quyền. Tiến trình chuyển đổi này có thể nhanh hơn hoặc tăng tốc vào năm
sau – 2018.
Ngân sách đang
hiện ra nhiều dấu hiệu cạn kiệt nhanh khó lường. Trong tình thế hầu hết
các nguồn ‘ngoại viện” đều đóng cửa, không “tự chuyển hóa” thì đảng sẽ..
hy sinh.
Bối cảnh của
thái độ dần thừa nhận “khúc ruột ngàn dặm” lại đậm đà dấu ấn “thu nhập
ngân sách”: sau 23 năm tăng trưởng liên tục, lượng kiều hối do “kiều bào
ta” gửi về Việt Nam đã sụt giảm nặng nề vào năm 2016, chỉ còn 9 tỷ USD
so với 13,5 tỷ USD của năm 2015. Vào nửa đầu của năm 2017, lượng kiều
hối thậm chí còn “suy thoái tư tưởng” ghê gớm hơn, đến mức cho tới thời
điểm này Tổng cục Thống kê còn không dám công bố con số kiều hối về Việt
Nam trong 6 tháng đầu năm 2017.
Trong khi đó,
một dự báo của Trung tâm nghiên cứu Pew của Mỹ còn cho thấy trong năm
2017 này, lượng kiều hối về Việt Nam có thể chỉ còn 5,4 tỷ USD. Tức “tụt
hậu” đến chẵn một thập niên…
Cho tới nay,
vẫn quá hiếm trường hợp trí thức của “khúc ruột ngàn dặm” được đảng ưu
ái tạo cho đất dụng võ ở quê nhà. Sau hơn bốn chục năm “giải phóng miền
Nam, thống nhất đất nước,” vẫn còn quá nhiều cảnh kỳ thị của nhà cầm
quyền Việt Nam đối với giới trí thức và văn nghệ sĩ hải ngoại. Nhiều trí
thức hải ngoại ôm mộng trở về Việt Nam để “cống hiến,” nhưng cuối cùng
đã phải chua chát biệt ly khỏi “vòng tay của đảng.” Nếu tạm gác lại nhu
cầu đô la, “khúc ruột ngàn dặm” đã chẳng có gì khác hơn là “ruột dư”…
***
Tin liên quan: Sách Lịch sử VN: Chỉ đích danh quân TQ xâm lược, không gọi chính quyền VNCH là ngụy quân, ngụy quyền...
TTO - Nhìn nhận
công lao nhà Mạc cùng chúa Nguyễn và các vương triều nhà Nguyễn, không
gọi chính quyền Việt Nam cộng hoà là ngụy quân, ngụy quyền như trước,
chỉ đích danh quân Trung Quốc xâm lược Việt Nam... Đó là những điểm mới
của bộ sách Lịch sử VN.
![]() |
| Bộ Lịch sử VN tái bản lần thứ nhất gồm 15 tập với nhiều điểm mới - Ảnh: V.V.TUÂN |
Sáng 18-8,
nhiều đơn vị xuất bản (công ty sách VN, NXB Thanh Niên, NXB Công an nhân
dân, NXB Khoa học xã hội) tổ chức giới thiệu các bộ sách trọng tâm bao
gồm:
- Bộ Lịch sử VN (15 tập)
- Văn hoá biển đảo VN.
- Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh (60 tác phẩm).
- 400 chữ quốc ngữ - sự hình thành, phát triển và đóng góp vào văn hoá VN.
- Lược sử Việt ngữ học, Hiên ngang Trường Sa...
Trong đó, bộ sách Lịch sử VN tái bản lần thứ nhất, có chỉnh sửa, bổ sung, do Viện Sử học VN biên soạn thu hút nhiều sự quan tâm của báo chí.
Bên lề buổi
giới thiệu sách, PGS. TS Trần Đức Cường, nguyên viện trưởng Viện sử học,
chủ tịch Hội khoa học lịch sử VN, tổng chủ biên bộ sách Lịch sử VN, đã có cuộc chia sẻ cởi mở với báo chí về những điểm mới của bộ sách này.
Khi thành lập
Ủy ban khoa học xã hội VN, bây giờ là Viện Hàn lâm Khoa học & Xã hội
VN thì GS. VS Nguyễn Khánh Toàn đã đưa ra kế hoạch nghiên cứu và biên
soạn các bộ sách là lịch sử VN, lịch sử văn hoá VN, lịch sử văn học VN,
lịch sử tư tưởng VN.
Đấy cũng là tâm
huyết của rất nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu sử học thuộc Viện khoa
học xã hội VN. Sau đó, Viện đã chấp thuận cho chúng tôi biên soạn bộ
thông sử VN với 15 tập.
Hơn 30 nhà
nghiên cứu sử học đã bỏ thời gian khoảng 9 năm như để hoàn thành bộ sử
này với hơn 10.000 trang. Đây là bộ thông sử quy mô chưa từng có từ
trước đến nay ở VN, từ thời khởi thủy cho đến những năm 2000.
|
| PGS. TS Trần Đức Cường |
* Lịch sử khởi thủy của VN trong bộ sử này có những điểm gì mới, thưa ông?
- Chúng tôi khẳng định nhà nước ở VN hình thành sớm, dân tộc VN hình thành sớm.
Đất nước VN
chúng ta hình thành trên cơ sở sự phát triển của ba nền văn hoá tương
ứng với ba vương quốc cổ đại là: văn hoá Đông Sơn với vương quốc Âu Lạc,
văn hóa Sa Huỳnh với nhà nước Chăm Pa, văn hóa Óc Eo với vương quốc Phù
Nam.
Chúng tôi đã
tránh được điều mà nhiều nhà sử học trước đây mắc phải là viết lịch sử
VN nhưng chủ yếu là lịch sử của người Việt gắn với vương quốc Âu Lạc.
* Thời kỳ các triều đại quân chủ chuyên chế ở VN cũng có nhiều tranh cãi sẽ được nhìn nhận ra sao trong bộ sách này?
- Việc đánh giá một số vương triều phong kiến VN được chúng tôi tiếp cận với nhiều điểm mới.
Với vương triều
nhà Mạc, rõ ràng chúng ta cần đi đến kết luận nhà Mạc là một trong
những vương triều có đóng góp trong lịch sử VN.
Dù chỉ tồn tại
khoảng thời gian không dài nhưng đã giải quyết được một số khủng hoảng
về kinh tế, xã hội cuối thời Lê. Chúng tôi đã bước đầu, đánh giá đầy đủ,
khách quan, trung thực về vấn đề này.
Khi Mạc Đăng
Dung cướp ngôi nhà Lê, là lúc nhà Lê đã rơi vào khủng hoảng kinh tế, xã
hội rất rõ chứ không còn như thời kỳ Lê Lợi, Lê Thánh Tông nữa. Để giải
quyết vấn đề này, Mạc Đăng Dung mới làm cuộc chính biến, giành lấy chính
quyền.
Không chỉ ổn
định kinh tế, xã hội mà nhà Mạc còn phát triển văn hoá, giáo dục với
nhiều khoa thi được mở, tìm được nhiều nhân tài cho đất nước.
Câu chuyện về
các chúa Nguyễn và nhà Nguyễn cũng phải đánh giá cho đúng. Chúng ta phải
ghi nhận các chúa Nguyễn đã có công tổ chức cho người Việt khai phá
vùng đất Nam Bộ bây giờ.
Sau khi lên
ngôi, thành lập vương triều Nguyễn năm 1802, nhà Nguyễn đã hoàn thành sự
nghiệp thống nhất đất nước - sự nghiệp mà nhà Tây Sơn và người anh hùng
áo vải Nguyễn Huệ đã mở ra nhưng chưa hoàn thiện.
Vua Gia Long lên ngôi đã góp phần hoàn thiện vào sự nghiệp thống nhất đất nước.
Thứ hai, nhà Nguyễn củng cố bộ máy cai trị toàn quốc, từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau.
Cùng với đó,
phải ghi nhận công lao của các chúa Nguyễn và nhà Nguyễn trong việc xác
định chủ quyền của đất nước với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Thời đó, hàng năm triều đình đã cử những đội Hoàng Sa, đội Bắc Hải đi tuần thú ở các đảo vùng Hoàng Sa, Trường Sa bây giờ.
Thứ ba, nhà
Nguyễn đã làm được nhiều việc phát triển văn hoá. Nhiều công trình được
xây dựng dưới thời Nguyễn sau này được UNESCO công nhận là di sản thế
giới như cung đình Huế. Lúc bấy giờ nước ta là vương quốc khá mạnh trong
khu vực Đông Nam Á.
Nhưng bên cạnh
điểm tích cực, các chúa Nguyễn và nhà Nguyễn cũng có những sai lầm bị
lịch sử lên án. Việc Nguyễn Ánh cầu cứu 5 vạn quân Xiêm sang xâm lược
nước ta là sai lầm hết sức nghiêm trọng. Chính người anh hùng Nguyễn Huệ
đã đánh tan đạo quân ấy.
Sai lầm thứ hai là họ ký hiệp ước với người Pháp, dựa vào người Pháp, dù lúc đó nước Pháp còn khó khăn nên chưa thể giúp đỡ.
Nhà Nguyễn
không chịu canh tân đất ước dù có nhiều nhân sĩ, trí thức, nhà nho yêu
nước có tư tưởng đổi mới đề xuất canh tân, đổi mới đất nước về nhiều mặt
như Nguyễn Lộ Trạch, Bùi Viện, Nguyễn Trường Tộ...
Nhưng các vua
nhà Nguyễn đã không chấp nhận những cải cách này khiến đất nước bị lạc
hậu. Có lẽ do lợi ích của dòng họ quá lớn. Vậy nên khi đất nước phải đối
diện với sự xâm lược của các nước tư bản phương Tây thì nhà Nguyễn để
đất nước rơi vào tay ngoại bang.
Chúng tôi đã đánh giá nhà Nguyễn rõ ràng, khách quan, không phiến diện như trước đây.
![]() |
| PGS. TS Trần Đức Cường trả lời báo chí - Ảnh: V.V.TUÂN |
*
Lịch sử hiện đại VN cũng có rất nhiều câu chuyện gây tranh cãi. Tiêu
biểu là cuộc chiến tranh chống quân Trung Quốc xâm lược biên giới phía
Bắc đến nay vẫn ít được nhắc đến trong sách sử?
- Cuộc chiến
tranh ở biên giới phía Bắc nước ta do Trung Quốc gây nên. Chúng ta phải
chiến đấu bảo vệ toàn tuyến biên giới phía Bắc từ Lai Châu đến Quảng
Ninh. Cuộc chiến đấu ấy rất quyết liệt để bảo vệ vững chắc chủ quyền Tổ
quốc.
Trong bộ sử
này, chúng tôi nói rõ rằng Trung Quốc đã huy động 600 nghìn quân cùng xe
tăng, đại bác... Chúng tôi gọi rõ đó là cuộc chiến tranh xâm lược của
Trung Quốc vào lãnh thổ VN.
Trung Quốc cho
quân tiến vào lãnh thổ VN mấy chục cây số như vậy thì không thể nói rằng
đó không phải là cuộc chiến tranh xâm lược.
Và trận chiến
đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của VN không chỉ gói gọn trong tháng
2-1979 mà còn kéo rất dài. Cán bộ, chiến sĩ của chúng ta phải hi sinh
rất nhiều xương máu. Đến năm 1988 mới thực sự tương đối có hoà bình ở
vùng biên giới phía Bắc.
|
* Một vấn đề khác được tranh cãi lâu nay là sự tồn tại của chính quyền Việt Nam Cộng hoà được nhìn nhận như thế nào, thưa ông?
- Chính quyền
Việt Nam cộng hoà là một thực thể ở miền Nam Việt Nam. Nó tồn tại trong
gần 21 năm. Năm 1954 còn có một thể chế nữa gọi là Quốc gia VN. Sau đó
đến năm 1955 thì Ngô Đình Diệm mới phế Bảo Đại để làm quốc trưởng, sau
đó trưng cầu dân ý, bầu Tổng thống.
Việt Nam Cộng
hoà là nối tiếp của Quốc gia VN. Nhưng vấn đề phải nghiên cứu cho rõ
nguyên tắc vận hành của chính quyền này là gì? Đó là một thực thể trên
lãnh thổ quốc gia VN.
Trước đây, khi
nhắc đến chính quyền Việt Nam Cộng hoà, mọi người vẫn hay gọi là ngụy
quân, ngụy quyền. Nhưng chúng tôi từ bỏ không gọi theo cách đó mà gọi là
chính quyền Sài Gòn, quân đội Sài Gòn.
Lịch sử phải khách quan, phải viết thế nào để mọi người chấp nhận.
*
Vậy còn những quan lại người Việt làm việc với chính quyền bảo hộ như
Hoàng Cao Khải, Hoàng Trọng Phu. Vì sao trong bộ sử lại đánh giá họ rất
nặng nề là “tay sai của thực dân Pháp”?
- Tôi xác nhận
Hoàng Cao Khải và Hoàng Trọng Phu chính là tay sai của thực dân Pháp.
Điều này không có gì thay đổi cả, bởi họ thực hiện mưu đồ của chính
quyền bảo hộ.
Có những viên
quan lại của Nam Triều có tinh thần yêu nước và chính quyền cách mạng
vẫn mời họ ra cộng tác như cụ Phan Kế Toại, cụ Phạm Khắc Hòe...
Nhưng hai nhân vật Hoàng Cao Khải và Hoàng Trọng Phu, qua những chứng cứ lịch sử thì không đánh giá khác được.
* Trong quá trình thực hiện bộ sách đồ sộ này, có những khó khăn gì, thưa ông?
- Khó khăn đầu tiên là chúng tôi chưa có điều kiện tập hợp tất cả giới sử học.
Khó khăn thứ
hai là về tư liệu vì hầu hết hiện nằm rải rác ở khắp nơi ngay trên đất
nước chúng ta. Đó là chưa kể chúng ta chưa có quy định pháp luật về việc
giải mật và công bố các tư liệu lịch sử.
Ở các nước có
quy định rõ ràng loại tư liệu nào trong 20 năm, hoặc 30 năm, 50 năm...
thì được bạch hoá. Nhưng chúng ta chưa có những quy định đó nên có những
tư liệu chúng tôi chưa có điều kiện tiếp cận.
Hơn nữa, có các
tư liệu ở Trung Quốc, Pháp, Mỹ, Nga, Nhật và nhiều nước khác nữa, vì
điều kiện chúng tôi cũng chưa tiếp cận được.



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét