Chiến lược của Mỹ tại Biển Đông nên được triển khai dựa vào 5 trụ cột chính sau đây: luật pháp quốc tế, chính sách ngăn chặn, chính sách khuyến khích, cam kết ngoại giao và tập trung vào việc lấy ASEAN làm trung tâm.
Nhiều nhà phân tích đang lo ngại về việc chính quyền mới của
Tổng thống Trump chưa đưa ra một tầm nhìn chiến lược về vấn đề Biển Đông. Dưới
thời Tổng Thống Trump, nước Mỹ có vẻ trở thành một cường quốc bị phân tâm bởi
nhiều mối lo ngại. Các cuộc điều tra liên tục về cáo buộc liên quan đến Nga
trong cuộc bầu cử tổng thống năm ngoái đã phủ bóng đen lên nhiệm kỳ tổng thống,
và cuộc chiến liên quan tới chính sách y tế làm nội bộ lục đục ngay trong đảng
của ông Trump.
Trong khi đó, những lời phàn nàn, bất mãn, tin đồn về việc từ
chức của một số nhân vật trong nội các của ông Trump (hoặc sau đó bị sa thải)
dĩ nhiên lại càng làm mất niềm tin vào Chính quyền Trump. Những sự xáo trộn này
cũng làm giảm khả năng của chính quyền đưa ra những chiến lược dài hơn cho các
vấn đề toàn cầu. Dĩ nhiên là vị trí lãnh đạo của nước Mỹ trên bản đồ thế giới
theo đó cũng bị lung lay.
Ở khu vực Đông Nam Á, điều này thể hiện rõ nét ở vai trò của
nước Mỹ trong các cuộc thảo luận về các vấn đề của khu vực thường có xu hướng tập
trung vào hoạt động tự do hàng hải (FONOP) ở Biển Đông.
Dĩ nhiên các cuộc tuần tra này là một phần quan trọng trong
việc gia tăng sự hiện diện của hải quân Mỹ tại khu vực để thực hiện các cam kết
của nước Mỹ. Hải quân của Mỹ được coi là sắp hoàn thành 900 giờ tuần tra tại Biển
Đông vào năm 2017, tăng từ đỉnh điểm là 700 giờ vào thời điểm cuối của Chính
quyền Obama. Với tốc độ này, tính trung bình mỗi ngày có đến hơn hai tàu hải
quân của Mỹ ở Biển Đông.
Nhưng đề cập đến tuần tra vì tự do hàng hải mà không có những
cuộc đối thoại về chiến lược thì cũng giống như là “cầm đèn chạy trước ô tô”.
Ngoài việc tình hình bên trong nước Mỹ đang rối ren, việc không có một chiến lược
cho Biển Đông cũng đặt ra câu hỏi về tầm quan trọng của khu vực này đối với nước
Mỹ.
Sự thật là lợi ích và cam kết của Mỹ đối với khu vực Đông
Nam Á nói chung luôn là những chủ đề tranh cãi ngoài hành lang của những người
nắm quyền lực tại Washington kể từ sau khi Mỹ rút khỏi Việt Nam vào năm 1973. Kể
cả khi có sự đồng thuận cho rằng Biển Đông ảnh hưởng tới lợi ích quốc gia của Mỹ,
câu hỏi tiếp theo vẫn là Biển Đông nằm ở đâu trong mức độ ưu tiên về chính sách
đối ngoại của Mỹ?
Các con số có thể trả lời được phần nào. Mỹ đã chi 425 triệu
USD trong 5 năm cho Sáng kiến An ninh hàng hải nhằm tăng cường năng lực hàng hải
của các đối tác Đông Nam Á. Để so sánh, mỗi năm đã chi hơn 10 tỷ USD cho riêng
Afghanistan. Nói cách khác, về mặt chi phí, Mỹ không coi trọng Biển Đông. Dĩ
nhiên điều này không có nghĩa là Mỹ nên đặt Biển Đông vào ưu tiên cuối cùng
trong các ưu tiên về đối ngoại.
Ngược lại, có đủ lý do để cho rằng Mỹ nên coi vai trò của nước
này tại khu vực Biển Đông là rất quan trọng, không phải với tư cách là một nước
tranh chấp mà là một trong những bên liên quan. Dĩ nhiên không chỉ Mỹ quan tâm
tới tiềm năng lớn về dầu mỏ và khí đốt tự nhiên ở Biển Đông. Nếu tình hình
không được kiểm soát, nguyên tắc tự do hàng hải trong khu vực Biển Đông có thể
bị đe doạ, ảnh hưởng lớn tới thương mại hàng hải của các đối tác của Mỹ. Giới
lãnh đạo chính trị và quân sự Mỹ đều phát đi thông điệp: “Mỹ sẽ cử máy bay, tàu
biển và hoạt động tại bất cứ nơi nào mà luật pháp quốc tế cho phép”.
Thứ hai, Mỹ thực ra luôn có mục tiêu chiến lược là ngăn chặn
sự thống trị tại bất cứ khu vực nào của một nước mạnh.
Thứ ba, mặc dù Tổng thống Trump đã làm giảm vai trò của trao
đổi thương mại quốc tế trong thời gian vừa qua, theo thời gian sẽ rất khó để
ông Trump có thể lờ đi sự năng động và thịnh vượng kinh tế của khu vực Đông Á,
hoặc phủ nhận rằng việc tham gia sự năng động và thịnh vượng này sẽ đem lại nhiều
lợi ích quan trọng cho chiến dịch “Nước Mỹ trước tiên” mà ông Trump khởi xướng
và muốn đẩy mạnh.
Năm trụ cột chính cho chiến lược của Mỹ
Vậy một chiến lược toàn diện của Mỹ tại Biển Đông nên được
xây dựng trên cơ sở nào? Dưới đây là 5 mảng chính:
Dựa trên luật pháp quốc tế
Thứ nhất, chính quyền nên tìm ra cách tiếp cận vấn đề Biển
Đông dựa trên luật pháp quốc tế. Luật pháp quốc tế cung cấp điều kiện thuận lợi
cho việc thực hiện các cuộc tuần tra vì tự do hàng hải, trong trường hợp bất kỳ
nước tranh chấp nào ra tuyên bố về Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ), các hoạt
động trên không vẫn có thể được tiến hành. Mỹ cần nhấn mạnh tầm quan trọng của
việc tiếp cận các nguồn lực chung toàn cầu mà không bị cản trở và những tuyên bố
này phải đi kèm hành động. Cùng với đó, Washington cũng cần phải chú ý những
quyết định trước đây của nước Mỹ liên quan đến luật pháp quốc tế. Mỹ vẫn chưa
phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về luật biển (UNCLOS). Đây là khung pháp lý
đóng vai trò chủ đạo trong các tranh chấp ở Biển Đông. Mỹ cũng không phê duyệt
Quy chế Rome toà án hình sự quốc tế mặc dù đóng vai trò quan trọng trong việc
xây dựng dự thảo này.
Thực ra với UNCLOS, ít nhất Mỹ đã tuân thủ các nguyên tắc của
nó. Nhưng một số quyết định của Mỹ liên quan tới luật pháp quốc tế cũng phủ một
bóng đen lên tinh thần lãnh đạo của nước Mỹ và trật tự quốc tế dựa trên hệ thống
luật pháp. Cũng cần nói thêm rằng Trung Quốc chưa bao giờ bỏ qua cơ hội nhắc nhở
nước Mỹ về thái độ này.
Chính sách ngăn chặn và các biện pháp phi quân sự
Nếu hệ thống luật quốc tế tạo thành mũi nhọn đầu tiên của một
chiến lược toàn diện của Mỹ ở Biển Đông, chính sách ngăn chặn nên là vấn đề ưu
tiên thứ hai.
Sau phán quyết của Toà Trọng tài ngày 12/7/2016 về Biển
Đông, một số người cho rằng tính pháp lý của các cấu trúc địa hình ở quần đảo
Trường Sa đã được làm rõ, do đó không cần thiết phải có các cuộc tuần tra.
Nhưng thực tế thì không phải vậy.
Hơn thế nữa, quan điểm này cũng coi nhẹ giá trị về chính
sách ngăn chặn mà các cuộc tuần tra mang lại. Đây là một công cụ cần thiết mặc
dù không hoàn hảo để ngăn chặn các nước đang tranh chấp đưa ra toà các yêu sách
hoặc ngăn chặn việc sử dụng biện pháp quân sự. Để đạt được mục đích đó, hải
quân Mỹ nên tiếp tục duy trì sự hiện diện tại Biển Đông.
Tuy nhiên, chính sách ngăn chặn không chỉ nên giới hạn ở việc
tuần tra trên biển hay ngăn chặn việc phải sử dụng các biện pháp quân sự là
không đủ. Các biện pháp phi quân sự cũng đóng vai trò không kém phần quan trọng.
Vì lý do này, bắt buộc phải có sự hiện diện của hải quân và việc này phải được
triển khai đồng bộ với các biện pháp kinh tế và ngoại giao. Nếu không có chiến
lược cụ thể, e rằng Mỹ cũng tạo ấn tượng rằng nước Mỹ cũng góp phần vào việc
"quân sự hóa" Biển Đông.
Các biện pháp kinh tế để tháo gỡ tình hình tại Biển Đông
không được nghiên cứu sâu chứ chưa nói đến được sử dụng một cách hiệu quả. Rất
đáng ngạc nhiên là Sáng kiến hạ lưu sông Mekong của Chính quyền Obama nhằm tăng
cường tiềm năng kinh tế của tiểu vùng sông Mekong được bắt đầu rất hoành tráng
nhưng cuối cùng thì lại không đạt được kết quả gì đáng kể. Vấn đề ở đây là các
chính sách kinh tế không những là một biện pháp ngăn chặn tốt mà nếu được thực
hiện hiệu quả còn có thể làm lợi cho nền kinh tế Mỹ. Mặc dù Trung Quốc đã có những
tiến bộ rõ rệt, nhưng Mỹ vẫn giữ vị trí là nền kinh tế lớn nhất thế giới với sự
độc tôn về công nghệ. Việc sử dụng hiệu quả các biện pháp kinh tế còn cho thấy
Mỹ là đối tác kinh tế đáng tin cậy của Đông Nam Á, điều này có thể giúp Mỹ có
thêm điểm tựa trong các cuộc thảo luận nhiều bên về các vấn đề an ninh trong
khu vực.
Cuối cùng, cho dù đang nói về việc ngăn chặn quân sự hay phi
quân sự, Mỹ phải đưa ra thông điệp rõ ràng về những gì mà nước này có thể làm để
đối phó với các hành động cụ thể của bất kỳ nước nào tranh chấp ở Biển Đông và
chứng tỏ quyết tâm cần thiết để xua tan hoài nghi về việc Mỹ không có chính
sách rõ ràng tại khu vực này. Nếu không, sự tín nhiệm của Mỹ cũng bị đe doạ.
Động lực khuyến khích
Các biện pháp ngăn chặn có thể cùng tồn tại với sự hợp tác,
vì vậy mặc dù cần phải mạo hiểm tại Biển Đông để cho các biện pháp ngăn chặn trở
nên hiệu quả, cũng cần thiết phải có các động lực để các bên kiềm chế. Một cách
hữu ích để giải quyết là đặt vấn đề Biển Đông trong bối cảnh quan hệ kinh tế và
thương mại song phương giữa Trung Quốc và Mỹ. Điều này có thể được thực hiện một
cách chiến lược, chứ không phải với mục tiêu là lấy Biển Đông ra làm đòn bẩy
hay để mặc cả, như một số bên lo ngại, và tạo cho Trung Quốc động lực để giữ
nguyên hiện trạng ở Biển Đông mà không làm ảnh hưởng tới lợi ích của Mỹ hay động
chạm đến các vấn đề nhạy cảm của các tuyên bố chủ quyền.
Cam kết ngoại giao
Điều này liên quan tới điểm thứ tư - thúc đẩy cam kết ngoại
giao. Mặc dù việc các quan chức từ nội các của ông Trump đã có những phát biểu
không tích cực liên quan tới Đông Nam Á, trao đổi ở cấp cao với các đối tác
Đông Nam Á vẫn cần được tăng cường. Thật không may, hiện tại có ít sự tương tác
ở cấp cao giữa Mỹ và các đối tác trong khu vực, với số lượng đáng kể các vị trí
liên quan tới Đông Nam Á vẫn còn trống trong Chính quyền Trump.
Giữ ASEAN ở vị trí trung tâm
Cuối cùng, Mỹ nên lưu ý rằng bất kỳ cách tiếp cận nào đối với
Biển Đông sẽ không vượt qua được ASEAN. Điều này có nghĩa là việc Washington
xây dựng bất kỳ chính sách nào đối với Biển Đông sẽ phải có sự tham vấn từ các
quốc gia ASEAN. Bằng cách này, Washington cũng sẽ đưa ra các tín hiệu đúng với
tư cách là một cường quốc bên ngoài, không yêu sách, quan tâm đến các vấn đề an
ninh khu vực, sẵn sàng lắng nghe và xem xét các quan điểm của Đông Nam Á.
*
Joseph Chinyong Liow, hiệu trưởng và là giáo sư về chính trị và quốc tế tại Trường Nghiên cứu quốc tế RSIS, Đại học Công nghệ Nam Dương, Singapore. Bài viết được đăng trên The Straits Times.
*
Joseph Chinyong Liow, hiệu trưởng và là giáo sư về chính trị và quốc tế tại Trường Nghiên cứu quốc tế RSIS, Đại học Công nghệ Nam Dương, Singapore. Bài viết được đăng trên The Straits Times.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét