Lê Xuân Khoa
Sau khi đắc cử chức vụ Tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ, ông
Donald Trump đã có những phát biểu mềm dịu hơn về nhiều vấn đề đối nội và đối
ngoại so với lập trường cứng rắn của ông trong thời gian tranh cử: bức tường
biên giới Mê-hi-cô nay trở thành “hàng rào”, hơn 11 triệu di dân lậu cần trục
xuất nay chỉ còn vài triệu, thỏa thuận về thay đổi khí hậu, và ngay cả
Obamacare, có thể được sửa đổi thay vì bác bỏ hoàn toàn, cựu đối thủ Hillary
Clinton “lưu manh” nay được gọi là “người tốt” …
Riêng đối với Trung Quốc, Tổng thống tân cử đã cho thấy thái
độ của ông chống chính sách bành trướng của Bắc Kinh còn quyết liệt hơn nữa.
“Giấc mơ Trung Quốc” của Tập Cận Bình nhắm trở thành siêu cường số một trên thế
giới bị Donald Trump ra tay ngăn chặn, chủ yếu về kinh tế và quân sự. Mặc dù
chính sách mới của Hoa Kỳ sẽ chỉ thể hiện trong 100 ngày đầu của chính phủ mới,
những tuyên bố và hành động của ông Trump trước ngày nhậm chức cũng đủ xác định
chiều hướng chiến lược của Hoa Kỳ trong bốn năm sắp tới.
Nói chung, lập trường cơ bản của tân Tổng thống Donald Trump
là rũ bỏ gánh nặng quốc tế của Hoa Kỳ để chú trọng tăng cường nội lực, đúng với
chủ nghĩa dân túy khi tranh cử là “Đưa Nước Mỹ Vĩ Đại Trở Lại” (Make America
Great Again). Vì chưa biết lập trường này sẽ thể hiện như thế nào trong thực tế,
thời điểm này còn quá sớm để có thể đánh giá kết quả mà các chính sách có xu hướng
biệt lập của chính quyền Trump sẽ đem lại cho nước Mỹ và thế giới. Bởi vậy, như
đã được giới hạn trong đề tài, bài này sẽ chỉ đề cập đến một vấn đề quan tâm lớn
nhất của mọi người Việt Nam hiện nay là: quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc dưới
thời Tổng thống Donald Trump sẽ tác động thế nào đến khu vực Châu Á-Thái Bình
Dương, đặc biệt là đối với vấn đề độc lập và chủ quyền của Việt Nam và nhu cầu
dân chủ hóa chế độ của quốc gia này. Mức độ hợp tác hay đối đầu trong quan hệ
giữa hai siêu cường sẽ mang tính quyết định đối với vận mệnh tương lai của Việt
Nam, vì vậy đương nhiên phải được những người Việt yêu nước theo dõi sát và dự
liệu những kịch bản có thể xảy ra để chuẩn bị ứng phó thích hợp.
Lập trường chống Trung Quốc của Donald Trump đã có từ lâu
nhưng chỉ được dư luận đặc biệt chú ý sau khi ông trở thành Tổng thống tân cử.
Chưa đầy một tháng sau ngày đắc cử, ông Trump đã tạo một sự cố ngoại giao khi
ông nhận điện đàm với bà Thái Anh Văn, lãnh đạo Đài Loan, ngày 3 tháng 12,
2016. Hành động này mặc nhiên nhìn nhận bà Thái Anh Văn là Tổng thống Trung Hoa
Dân quốc, trái với nguyên tắc “Một nước Trung Hoa” vẫn được các Tổng thống Mỹ
tôn trọng từ 1979 khi Hoa Kỳ đoạn giao với Đài Loan và chính thức công nhận Cộng
Hòa Nhân Dân Trung Quốc. Ông Trump đã biện minh cho thái độ chống Trung Quốc của
ông qua những lời tố cáo Bắc Kinh đã lợi dụng tư cách thành viên của Tổ chức
Thương mại Thề giới (WTO) để thi hành những chính sách phá hoại kinh tế Mỹ, đồng
thời đe dọa an ninh toàn thể khu vực Á châu-Thái Bình Dương, như phá giá đồng
nhân dân tệ làm mất sức cạnh tranh của Mỹ trên thị trường nội địa và quốc tế,
đánh thuế nặng vào sản phẩm nhập cảng của Mỹ vào Trung Quốc, và kiến tạo một hệ
thống quân sự khổng lồ ngay giữa Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông).
Trung Quốc và Việt Nam
Tiếp nối tham vọng chinh phục các dân tộc phương Nam của các
triều đại phong kiến từ trên 2000 năm trước, dòng lãnh đạo cộng sản Trung Quốc
từ Mao Trạch Đông đến các hậu duệ của y, trong gần 70 năm qua, luôn luôn tìm
cách thôn tính Việt Nam và đồng hóa dân tộc Lạc Việt. Tổng Bí Thư Lê Duẩn là
người đã tố cáo rõ âm mưu này của họ Mao từ những năm 1960, nhưng sau Hội nghị
Thành Đô năm 1990, nhờ lòng thần phục tự nguyện của Nguyễn Văn Linh và nhóm bảo
thủ, Bắc Kinh đã có được những điều kiện thuận lợi chưa bao giờ thấy để đạt được
tham vọng lâu đời của Trung Quốc. Ngày nay, Tập Cận Bình là lãnh tụ có quyền
hành lớn nhất và mưu đồ ác độc nhất, quyết thực hiện “Giấc mơ Trung Quốc” bằng
mọi giá. Năm 2013, khi đưa ra chủ thuyết “Trung Quốc Mộng”, y đã nhấn mạnh rằng
“Sự phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa là giấc mơ lớn nhất của Trung Quốc”.
Tại Biển Đông, Tập Cận Bình tái khẳng định bản đồ đường chín
đoạn (hay đường lưỡi bò) bao gồm 80 phần trăm diện tích Biển Đông là thuộc chủ
quyền của Trung Quốc, hung hăng tấn công tàu tuần duyên và chặn bắt những tàu
thuyền đánh cá của Việt Nam, ngang nhiên đưa giàn khoan dầu Hải Dương 981 vào
giữa vùng tranh chấp biển gần Đà Nẵng, phủ nhận phán quyết của Tòa án Trọng tài
Quốc tế về chủ quyền đường chín đoạn, và quan trọng nhất là gấp rút cải tạo một
số bãi đá và rạn san hô trên quần đảo Trường Sa thành những đảo nổi để sẵn sàng
sử dụng vào mục tiêu quân sự. Gần đây nhất, Trung Quốc lại cướp giựt một thiết
bị lặn không người lái của Mỹ ngay trước mũi hải quân Hoa Kỳ, nhưng đã phải trả
lại.
Việt Nam là nước láng giềng sát nách Trung Quốc trên bờ Biển
Đông với trên 3200 km đường bờ biển không kể các đảo. Dẫn nguồn thông tin của
chính phủ Việt Nam, Wikipedia cho biết, “Ngoài vùng nội thuỷ, Việt Nam tuyên bố
12 hải lý lãnh hải, thêm 12 hải lý vùng tiếp giáp lãnh hải, 200 hải lý vùng đặc
quyền kinh tế và cuối cùng là thềm lục địa. Diện tích vùng biển thuộc chủ quyền,
quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam chiếm diện tích khoảng 1.000.000
km² biển Đông.” Vì Việt Nam có tài nguyên biển phong phú và vị trí chiến lược
quan trọng như vậy, các thế hệ lãnh đạo cộng sản Trung Quốc rất thèm khát chiếm
đoạt đất nước này nhưng đã thấy rõ là chỉ khi nào Việt Nam lệ thuộc hoàn toàn
vào Trung Quốc thì họ mới có điều kiện tốt nhất để đẩy Hoa Kỳ ra khỏi Biển Đông
và kiểm soát các nước ASEAN trong lâu dài.
Rút kinh nghiệm thất bại của các triều đình phong kiến ngày
trước cùng những cay đắng trong quá trình hợp tác và giúp đỡ các “đồng chí” cộng
sản phía nam (trước thời TBT Nguyễn Văn Linh), lãnh đạo Bắc Kinh đã khám phá được
rằng giống nòi Lạc Việt có một cái “gien” độc lập đã giúp họ đánh bại mọi cuộc
chiến xâm lược và mưu đồ Hán hóa của Trung Quốc. Ngay cả trong mười thế kỷ bị
Trung Quốc đô hộ, dân tộc Việt đã luôn luôn nổi dậy và năm 938, trận Bạch Đằng
của Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán đã chính thức mở đầu kỷ nguyên độc lập của
Việt Nam. Quả thật người Việt chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa phương Bắc nhưng
đó là những ảnh hưởng do họ chọn lựa và thường thêm màu sắc Việt Nam, lắm khi còn
chế riễu sắc thái gốc, nhờ đó họ có thể tồn tại với cá tính khác biệt. Biết rõ
như vậy, cộng sản Trung Quốc nhất định phải tiêu diệt cái gien độc lập đã hun
đúc ý chí và khả năng trỗi dậy của chủng tộc Việt. Chúng đã thiết lập một kế hoạch
vô cùng ác độc để đạt được mục tiêu này.
Chỉ trong hơn 10 năm qua và chỉ bằng “sức mạnh mềm”, cộng sản
Trung Quốc đã có thể từng bước thực hiện kế hoạch thôn tính Việt Nam. Về chính
trị, qua cơ chế giao lưu hợp tác giữa hai Ban Đối ngoại và Ban Tuyên giáo của
hai Đảng, Trung Quốc thường xuyên đào tạo cán bộ Đảng và Nhà nước Việt Nam về vấn
đề quản lý đất nước, thiết lập các viện văn hóa tại Việt Nam và tổ chức những
buổi sinh hoạt hữu nghị giữa nhân dân hai nước. Ngoài ra, hai bên còn có những cuộc Hội thảo Lý luận định kỳ và bất thường để
trao đổi kinh nghiệm và phối hợp công tác xây dựng Đảng và Nhà nước. Điều này
cho thấy bộ máy cầm quyền ở Việt Nam chỉ là một phiên bản của mô hình Trung Quốc
ở mức độ nhỏ và đơn giản hơn, và lãnh đạo Trung Quốc đã có ảnh hưởng không nhỏ
đến việc lựa chọn các cán bộ lãnh đạo ở Việt Nam từ trung ương tới địa phương.
Thật không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy phương châm “16 chữ” và tinh thần “4
tốt” được Giang Trạch Dân đưa ra trong quan hệ hợp tác chiến lược toàn diện giữa
hai nước đã chỉ được “kiên trì” thực hiện một chiều từ phía Việt Nam. Sự lệ thuộc
vào Trung Quốc về chính trị đã dẫn đến những hậu quả vô cùng tai hại cho Việt
Nam về mọi mặt. Sau đây là một số bằng chứng hiển nhiên:
- Về chủ quyền lãnh
thổ và lãnh hải, Trung Quốc đã lấn chiếm được nhiều vị trí và diện tích quan trọng
trên đất và trên biển của Việt Nam qua Hiệp ước Sửa đổi về Biên giới năm 1993
và Hiệp ước Phân định Vịnh Bắc Bộ năm 2000, không kể những địa điểm đã chiếm đoạt
bằng vũ lực ở Hoàng Sa và Trường Sa.
- Về kinh tế, Trung Quốc đã lũng đoạn toàn bộ nền
kinh tế của Việt Nam qua những dự án đầu tư xây dựng và khai thác tài nguyên khổng
lồ, như dự án mỏ bô-xít Tây nguyên, khế ước cho thuê dài hạn rừng đầu nguồn, lập
vùng định cư riêng cho công nhân và di dân Trung quốc, v.v. Thực phẩm và hàng
hóa Trung Quốc nhập lậu tràn ngập qua biên giới giết chết nhiều sản phẩm nội địa
của Việt Nam.
- Về văn hóa giáo dục,
Trung quốc thiết lập các Viện Khổng tử và đưa chương trình học chữ Hán vào các
trường phổ thông, cắt bỏ môn học lịch sử, nhất là những sự kiện về hành động
xâm lược và tội ác của chính quyền Trung Quốc đối với nhân dân Việt Nam.
- Về an ninh quốc
phòng, Trung Quốc đã thiết lập được những cứ điểm và tuyến giao thông chiến lược
quan trọng trong nội địa Việt Nam, thuận lợi cho những cuộc hành quân xâm lược
và chống nổi dậy khi cần thiết.
- Về sức khỏe và môi
trường, Trung Quốc đã đưa vào Việt Nam những thực phảm và thuốc men nhiễm độc,
gây nhiều bệnh nan y làm suy nhược cái “gien độc lập” và hủy diệt khả năng trỗi
dậy của chủng tộc Việt. Trong kế hoạch lâu dài, chúng đã xây cất một chuỗi đập
thủy điện ở thượng nguồn sông Mekong và giúp cho Thái, Lào, Cam-bốt xây đập hay
rẽ nước ở giữa nguồn nhằm hạn chế lượng nước, cá và phù sa chuyển xuống Đồng bằng
sông Cửu Long, nơi cung cấp các sản phẩm nông nghiệp và ngư nghiệp quan trọng
nhất của Việt Nam. Từ nhiều năm qua, ĐBSCL đã phải hứng chịu nạn ô nhiễm môi
trường trầm trọng vì là chặng cuối cùng của dòng sông Mekong trước khi đổ ra biển.
Hoa Kỳ và Việt Nam
Tháng 11 năm 1976, chỉ ba tháng sau khi đắc cử, Tổng thống
Jimmy Carter đã tạo cơ hội hòa giải và thiết lập quan hệ ngoại giao với CHXHCN
Việt Nam vì Hoa Kỳ đã tiên liệu được ý đồ bành trướng của Trung Quốc trong khu
vực Đông Nam Á. Chẳng may các lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã bỏ lỡ cơ hội này vì
đặt điều kiện tiên quyết là Mỹ phải bồi thường chiến tranh mặc dù chính họ đã
xé bỏ hiệp định hòa bình Paris năm 1973. Chỉ đến khi nhận ra sai lầm vì đã lỡ
thần phục Trung Quốc tại hội nghị Thành Đô năm 1990, lãnh đạo Hà Nội mới trở lại
điều đình với Mỹ với hi vọng quan hệ bình thường Việt-Mỹ sẽ giúp cho họ khỏi bị
trói buộc vào quỹ đạo Bắc Kinh. Mãi tới 1994, Hoa Kỳ mới bãi bỏ cấm vận Việt
Nam và một năm sau, hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao và thương mại.
Cũng bắt đầu từ 1995, Hà Nội thi hành chính sách đu dây giữa
Trung Quốc và Hoa Kỳ, cân bằng quan hệ với mỗi nước trên cơ sở “đôi bên cùng có
lợi”. Trên thực tế, dù có bị áp lực hay không, Việt Nam cũng đã ngả nhiều hơn về
phía Trung Quốc, không chỉ vì những ràng buộc ý thức hệ giữa hai Đảng mà còn vì
nhu cầu duy trì chế độ độc tài để vơ vét của cải do vô số cơ hội tham nhũng và
bóc lột nhân dân. Hoa Kỳ biết rõ điều này nhưng vẫn kiên nhẫn phát triển quan hệ
hợp tác toàn diện với Việt Nam, chủ yếu là thương mại, an ninh và quốc phòng.
Ngoài ra còn có những chương trình trợ giúp nhân đạo, chuyển giao công nghệ và
giáo dục đào tạo. Những cơ hội hợp tác và giao lưu thường xuyên giữa các giới
nhân dân hai nước trong lâu dài sẽ đem lại một tầng lớp trí thức tiến bộ và một
xã hội công dân có ý thức về quyền con người và lợi ích của chế độ dân chủ. Đó
là tiến trình đổi mới chính trị một cách tự nhiên và có trật tự trong một xã hội ổn định. Cộng sản Việt Nam thấy rõ đây là
nguy cơ “diễn biến hòa bình” nên đã ra sức ngăn chặn tiến trình này.
Khác với chính sách ngoại giao của Trung Quốc đối với Việt
Nam có tính cách chỉ huy và áp đặt, chính sách của Hoa Kỳ có tính cách khích lệ
và tôn trọng tư cách độc lập của Việt Nam. Những lời cam kết long trọng của Tổng
thống Obama ở Washington và những vần thơ lẩy Kiều đầy tình cảm của ông ở Hà Nội
không thể nào thấy được một nét tương đương trong ngôn ngữ đàn anh của Tập Cận
Bình đối với các lãnh đạo Việt Nam, chỉ nhắc nhở đến nhàm tai là phải “kiên trì
thực hiện 16 chữ và 4 tốt”. Chủ tịch Trung Quốc đã không ngần ngại hạ nhục Tổng
Bí Thư Nguyễn Phú Trọng khi từ chối trả lời đường giây “điện thoại đỏ” mà ông
Trọng đã sử dụng khẩn cấp nhiều lần để xin sang Bắc Kinh tìm cách giải quyết vụ
giàn khoan Hải Dương 981. Mặt khác, cũng
phải khách quan nhìn nhận rằng Hoa Kỳ đã có chính sách chiều chuộng và kiên nhẫn
rất khác thường đối với cộng sản Việt Nam, không hẳn vì nước Mỹ có thói quen đối
xử bình đẳng và dân chủ trong quan hệ quốc tế. Lý do không phải vì Hoa Kỳ có
thiện cảm đặc biệt với CHXHCN Việt Nam mà chính vì Hoa Kỳ muốn có sự hợp tác của
Việt Nam trong chiến lược ngăn chặn Trung Quốc thống lĩnh Biển Đông và kiểm
soát toàn thể khu vực. Mục tiêu này nằm trong chiến lược mang tên “Xoay trục
sang châu Á” và chiến lược này chỉ thành công mỹ mãn nếu Việt Nam thật tình chọn
con đường “thoát Trung”.
Tới đây, một câu hỏi quan trọng được đặt ra là Chiến lược “Xoay trục sang châu Á” trong đó
Việt Nam cần được Hoa Kỳ khuyến khích thoát Trung sẽ được Tổng thống tân cử
Donald Trump xử lý ra sao? Bác bỏ hoàn
toàn hay sửa đổi cho thực tế và hữu hiệu hơn?
Trước khi tìm câu trả lời cho câu hỏi này, cần ghi nhận vài
nét chính của chiến lược “Pivot to Asia” được cựu Ngoại trưởng Hillary Clinton
trình bày rành mạch trong bài “America’s Pacific Century” (Thế kỷ Thái Bình
Dương của Mỹ) trên tạp chí Foreign Policy tháng 10, 2011. Bà Clinton nhấn mạnh vào điều kiện địa-chính
trị quan trọng của khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, trải rộng từ tiểu lục địa Ấn
độ đến bờ biển miền Tây nước Mỹ, bắc qua hai Đại dương, và là nơi sinh sống của
gần một nửa dân số trên thế giới với trị giá lưu lượng thương mại hàng năm qua
Biển Đông lên tới hơn 5 ngàn tỉ đô-la. Hillary dự kiến trong mười năm tới, Hoa
Kỳ phải khôn ngoan chọn lựa những quốc gia thích hợp trong khu vực để đầu tư có
thực chất về mọi mặt gồm cả ngoại giao, kinh tế và chiến lược, nhằm duy trì vai
trò lãnh đạo và đảm bảo lợi ích chung của Hoa Kỳ và các quốc gia đối tác. Chiến
lược này rõ ràng nhắm vào Trung Quốc, không chỉ ngăn chặn tham vọng bá quyền của
lãnh đạo Bắc Kinh mà còn làm suy yếu khả năng cạnh tranh và làm chậm lại đà
phát triển của họ. Một công cụ được đánh
giá là tối cần thiết để giúp cho chiến lược “Xoay trục sang châu Á’ được thành
công là Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) mà chính quyền Obama đã bỏ
ra nhiều năm đàm phán với 11 quốc gia trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương và
đã đạt được thỏa thuận cuối cùng vào tháng 10, 2015. Hiệp định này cần được Quốc hội các nước
thành viên phê chuẩn trước khi có hiệu lực thi hành năm 2018. Cho đến ngày bầu
cử Tổng thống tháng 11, 2016, Quốc Hội Mỹ vẫn chưa đưa TPP ra thảo luận và số
phận của hiệp định này hiện nay được kể như đã bị Hoa Kỳ khai tử.
Trump và quan hệ Mỹ-Trung
Với chủ trương “America First” (Nước Mỹ trước hết), Tổng thống
tân cử Donald Trump đã cho thấy cơ bản về chính sách đối ngoại của Mỹ là chống
tự do mậu dịch trong xu thế toàn cầu hóa, cắt giảm các chương trình hợp tác và
giúp đỡ quốc tế để gia tăng sức mạnh kinh tế và quân sự của Hoa Kỳ. Tuy nhiên,
như thực tế đã cho thấy, sau khi đắc cử ông Trump đã tỏ ra uyển chuyển hơn về
nhiều mặt ngoại trừ quyết tâm ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc. Ông đã
tham khảo với Henry Kissinger, kiến trúc sư của chính sách Trung Quốc từ thời Tổng
thống Nixon, tìm hiểu kinh nghiệm hợp tác với Bắc Kinh để cùng phát triển trong
hòa bình, trong khi ông vẫn giữ vững lập trường coi Trung Quốc là mối đe dọa lớn
nhất đối với nền kinh tế và an ninh quốc phòng của Mỹ. Bởi vậy, Trump đã có cả
một đội ngũ cao thủ chống Trung Quốc tham gia chính quyền mới như Peter
Navarro, Wilbur Ross, Michael Flynn, James Mattis làm việc sát cánh với ông để
định hình chiến lược đối phó với mối họa Trung Quốc.
Nhưng ngăn ngừa Trung Quốc không có nghĩa là đối đầu với
nguy cơ dẫn đến chiến tranh. Thái độ cứng rắn của Trump là một tín hiệu cảnh
báo lãnh đạo Bắc Kinh rằng họ đã quá lộng hành trong quan hệ quốc tế, tiếp tục
phá hoại kinh tế Mỹ bằng chính sách lũng đoạn tiền tệ và mậu dịch, ngang ngược
đòi quyền làm chủ Biển Đông và có những hành động đe dọa an ninh khu vực. Về
phía Trung Quốc, dù rất tức giận trước cuộc điện thoại bất ngờ của ông Trump với
“Tổng thống” Đài Loan Thái Anh Văn, và dù cũng cảnh báo lại Hoa Kỳ rằng việc phủ
nhận nguyên tắc “Một nước Trung Hoa” là một hành động phiêu lưu nguy hiểm, lãnh
đạo Bắc Kinh vẫn tỏ ra thận trọng và nhấn mạnh rằng “Hợp tác kinh tế và chính
trị không chỉ quan trọng cho hòa bình và thịnh vượng của hai nước mà còn cho cả
toàn cầu.”
Như vậy, trong khi Hoa Kỳ và Trung Quốc đều khẳng định lập
trường cứng rắn của mình, không bên nào muốn có chiến tranh và vẫn để ngỏ cơ hội
cho các nỗ lực tìm kiếm giải pháp hòa bình. Về phần ông Trump, ngay cả khi trả
lời những chỉ trích về cuộc điện đàm với bà Thái Anh Văn, , ông đã không dứt
khoát phủ nhận nguyên tắc “Một nước Trung Hoa” trong lời tuyên bố với Fox News:
“Tôi hoàn toàn hiểu chính sách “Một nước Trung Hoa” nhưng tôi không hiểu tại
sao chúng ta phải bị ràng buộc bởi chính sách đó trừ phi chúng ta thương lượng
với họ liên quan đến nhiều chuyện khác, bao gồm thương mại.” Theo ý kiến ấy,
Washington và Bắc Kinh sẽ phải có những cuộc hội đàm nghiêm túc với ý muốn
thương lượng, và giải pháp hòa bình sẽ đạt được khi cà hai bên đều tương đối thỏa
mãn với kết quả nhân nhượng lẫn nhau. Trong tương quan lực lượng hiện nay, Hoa
Kỳ vẫn là siêu cường số 1, do đó nếu thật sự không muốn có chiến tranh, Trung
Quốc sẽ phải chịu nhân nhượng nhiều hơn. Nói cụ thể, Trung Quốc sẽ phải chấm dứt
các hành động xâm phạm lợi ích của nước Mỹ, ngưng đe dọa an ninh và hòa bình
trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Đổi lại, Trung Quốc sẽ được chia sẻ quyền
sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển trong khu vực, thiết lập hoặc tham
gia các chương trình phát triển chung và giải quyết tranh chấp về chủ quyền biển
đảo với các nước liên quan trên cơ sở luật pháp quốc tế và Bộ Quy tắc Ứng xử ở
Biển Đông (COC) đang chờ đợi được hoàn tất. Đây là giải pháp lý tưởng mà ông
Trump có thể đem lại cho nước Mỹ và các nước trong khu vực.
Trong tình thế hiện nay, giải pháp này là một viễn tượng lạc
quan, một giả định hợp với logic nhung không dễ đạt được vì Trung quốc đang chiếm
nhiều lợi thế trong khu vực và đang khai thác tình trạng hoang mang của khối
ASEAN trước mối lo bị Mỹ bỏ rơi và tương lai đen tối của hiệp định TPP. Hơn nữa,
Trung Quốc đã hoàn tất cải tạo phi pháp bảy hòn đảo ở Trường Sa mà chính ông
Trump đã phải nhìn nhận là “chuyện đã rồi”. Thực tế là Bắc Kinh đang “nắn gân”
vị tổng thống tân cử Mỹ và chưa thể biết ông Trump sẽ phản ứng ra sao.
Nhưng nếu giả định trên đây về quan hệ Mỹ-Trung có khả năng
trở thành hiện thực thì đó cũng chính là mục tiêu của chính quyền Obama trong
chiến lược “Xoay trục sang châu Á”, nhưng khác ở chỗ ông Trump không dùng tên gọi
này và nhất là ông đã mau chóng cho Bắc Kinh thấy rõ thái độ quyết liệt của
ông. Khách quan mà nói, Tổng thống Obama đã quá rụt rè trong việc thực hiện chiến
lược “Xoay trục sang châu Á” mà sau này thường nhẹ nhàng gọi “xoay trục” là
“tái cân bằng”. Chính vì thái độ thiếu cương quyết trước một Trung Quốc hung
hăng lấn tới mà ông Obama đã làm cho các nước trong khu vực không còn mấy tin
tưởng vào những hứa hẹn và cam kết của Hoa Kỳ. Về điểm này, Hillary Clinton, kiến
trúc sư của chiến lược xoay trục sang Châu Á, mới thật sự có lập trường cứng rắn
đối với Trung Quốc và đã trở thành một chướng ngại lớn trong con mắt của lãnh đạo
Bắc Kinh và một đối tượng bị truyền thông Trung Quốc đả kích nặng nề.
Chỉ vài sự kiện dưới đây cũng đủ cho thấy lập trường và thái
độ cương quyết của Hillary Clinton đối với Bắc Kinh và giải thích tại sao giới
phân tích chính trị Trung Quốc đã nhận định rằng chính Clinton chứ không phải
Obama là kẻ chủ mưu gây rối ở Biển Đông, thậm chí Hoàn Cầu Thời Báo đã gọi
Hillary là “chính trị gia bị ghét nhất ở Trung Quốc”:
- Năm 2010, tại Diễn
đàn ASEAN về vấn đề Biển Đông, Ngoại trưởng Clinton đã khẳng định quyền tự do
hàng hải và tự do tiếp cận với các nước trong khu vực là lợi ích quốc gia của
Hoa Kỳ. Bà nhấn mạnh rằng “đường chín đoạn” mà Trung Quốc tự ý vẽ ra và đòi quyền
làm chủ là “bất hợp pháp”. Lời tuyên bố mạnh mẽ này đã làm cho Ngoại trưởng
Trung Quốc Dương Khiết Trì tức giận rời bỏ phòng họp, để lại một lời răn đe các
nước ASEAN: “Trung Quốc là một nước lớn và các quốc gia khác đều là nước nhỏ”.
- Năm 2012, ngoại
trưởng Clinton chủ trì một phiên họp với ngoại trưởng bốn quốc gia vùng hạ lưu
sông Mekong (Việt Nam, Thái Lan, Lào và Cam-bốt) để thảo luận nhu cầu quản lý
nguồn nước, nguồn cá và phối hợp các chương trình phát triển bền vững với sự
tài trợ của Mỹ và Úc. Hiển nhiên mục đích của Mỹ không chỉ giúp bảo vệ đời sống
của 60 triệu dân ở các nước hạ lưu, đặc biệt là đồng bằng sông Cửu Long ở Việt
Nam, mà còn gia tăng sự hiện diện của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á nhằm cân bằng ảnh hưởng
của Trung Quốc. Tiếc rằng sau đó, bà Clinton rời bỏ chức ngoại trưởng trong nhiệm
kỳ thứ hai của chính phủ Obama nên “Sáng kiến Hạ lưu sông Mekong” (LMI) và “Ủy
hội sông Mekong” (MRC) bị Trung Quốc tìm cách vô hiệu hóa bằng những thỏa thuận
riêng với Thái Lan, Lào và Cam-bốt.
- Theo một thư điện
tử được WikiLeaks tiết lộ trong cuộc tranh cử Tổng thống vừa qua, thì trong một
phiên họp tại ngân hàng Golden Sachs hồi tháng 10, 2013 bà Clinton cho hay bà
đã nói thẳng với đại diện Trung Quốc về chủ quyền Biển Đông rằng “Chúng tôi đã
giải phóng và bảo vệ vùng biển này. . . Chúng tôi cũng có thể đòi hỏi cả Thái
Bình Dương và chúng tôi có thể gọi đó là Biển Hoa Kỳ, từ bở Tây California chạy
suốt cho đến Phi-lip-pin. Các bạn biết không, đối tác của tôi ngồi thẳng cứng
và nói, quý vị không thể làm như vậy được. Tôi đáp, chúng tôi cũng có quyền đòi
hỏi như quý vị đã làm. Ý tôi muốn nói, quý vị đòi chủ quyền trên các mảnh gốm
hay một vài tàu cá đắm ở một rạn san hô nào đó. Quý vị nên biết rằng chúng tôi
đã bố trí lại sức mạnh quân sự. Lạy Chúa, chúng tôi đã phát hiện ra Nhật Bản”.
(RFI, 10/21/2016)
- Một bản tin AFP dẫn
lời phát biểu của ứng cử viên Clinton trong buổi nói chuyện với các công nhân ở
tiểu bang Pennsylvania : “Trung Quốc phá giá bất hợp pháp hàng hóa ở thị trường
của chúng ta, đánh cắp bí mật thương mại, chơi trò phá giá đồng tiền, sử dụng
chính sách không công bằng, bênh vực doanh nghiệp Trung Quốc và phân biệt đối xử
với doanh nghiệp Mỹ”. Tuyên bố này của Hillary Clinton không khác gì lời tố cáo
của ông Donald Trump về những thủ đoạn phá hoại kinh tế Mỹ của Trung Quốc.
Dù sao, điểm khác biệt cơ bản giữa chính sách đối ngoại của
ông Trump và của Obama/Clinton là rũ bỏ gánh nặng quốc tế của Hoa Kỳ và chỉ hợp
tác song phương với các nước liên quan nếu những nước này chịu các chi phí về
phần họ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét